You are here

Năm Mươi Năm sau Pacem In Terris: Giáo Dục và Giáo Dục Học Đường

Cho tới những thế kỷ gần đây, sự giáo dục chính quy là một sự kiện hiếm hoi và thất thường. Vì những lý do của sự tồn tại dựa vào nhau, cha mẹ là nhà giáo dục đầu tiên của con cái. Trừ một số ít may mắn có gia sư, các phụ huynh và gia đình mở rộng là những người cung cấp sự giáo dục. Các mục đích của loại giáo dục tồn tại này là sự tồn tại liên tục và chỉ để tái tạo một cách thành công cuộc sống của cha mẹ mình.

Trước kia, sứ mệnh giáo dục Công giáo mở rộng vượt quá việc loan báo tin mừng tới việc tạo ra và phổ biến kiến thức. Giáo dục chính quy ở nhà trường trước tiên dành cho các giáo sĩ và rồi cho những người thế tục ưu tú. Sự bành trướng rộng rãi nền giáo dục xảy ra khi Giáo hội mở rộng sứ mệnh này hơn nữa để bao gồm toàn bộ giáo dân. Ban đầu hồi thế kỷ XVI và XVII, Giáo hội đấu tranh cho sự phát triển cái đã trở thành sự giáo dục ở trường tiểu học và trung học. Khi các cơ chế của nhà nước phát triển, nó nắm quyền giáo dục học đường, nhưng thường có sự hợp tác và có những mục đích chung với các giới chức tôn giáo.

Tuy nhiên, lịch sử của ba thế kỷ qua đã chứng kiến tình trạng ngày càng tan vỡ và phân hóa giữa các mục đích và hoạt động giáo dục của giáo hội và nhà nước. Hồi thế kỷ XVIII, các học giả và nhà hoạch định chính sách của Pháp đã đưa ra sự biện hộ cho nỗ lực giáo dục học đường độc quyền của nhà nước cho dân thường. Hồi thế kỷ XIX, “các thử nghiệm” của nền cộng hòa mới là Pháp và Mỹ, phát triển những hệ thống học đường đại quy mô do nhà nước quản lý, những hệ thống dần dần xóa sạch yếu tố và viễn cảnh tôn giáo khỏi giáo dục học đường.

Kinh nghiệm của nước Mỹ là một ví dụ về sự tục hóa giáo dục học đường dần dần, nhưng dường như không thể ngăn chặn tại nhiều vùng của thế giới. Những người định cư ban đầu trong khu kiều dân Massachusetts của Tân Thế Giới đã sợ rằng con cái của họ, bị cắt đứt khỏi những gì mà họ cho là thế giới văn minh, sẽ gặp nguy hiểm. Vào năm 1647, cơ quan lập pháp còn non kinh nghiệm của thuộc địa Massachusetts đã đối phó lại và thông qua Đạo luật Old Deluder Satan (Eberling, 1999). Nó thúc đẩy dân định cư thiết lập trường học để dạy chữ với mục đích rõ rệt là để đọc Kinh thánh. Sự tiếp cận Kinh thánh được xem như cách hiệu quả nhất để thoát khỏi nanh vuốt Satan. Trong thực tế, họ dùng quyền của nhà nước để thiết lập hệ thống trường tiểu học và trung học vì mục đích tinh thần. Đó là bảo đảm cho con cái họ được học các chân lý của Kitô giáo.

Kinh thánh Tin Lành và các nguyên tắc đạo đức Kitô giáo là những trụ cột chính trong các trường học suốt thời kỳ Thuộc địa Mỹ và cả những năm nước Mỹ mới trở thành một quốc gia độc lập. Các nhà lãnh đạo cuộc Cách mạng Mỹ và những người thành lập đất nước mới này đã bênh vực việc thiết lập trường công được hỗ trợ thuế và biện minh cho việc dạy đạo đức dựa trên tôn giáo nhằm nâng “cao ý thức trách nhiệm đạo đức của quần chúng vốn cần thiết cho sự an toàn của chính họ và chính quyền pháp trị” (Ryan và Bohlin, 1999, tr. 20).

Tuy nhiên, những căng thẳng về sự kiểm soát nội dung giáo dục học đường bắt đầu hồi thế kỷ XIX. Trước tiên, nhằm biện minh cho “việc xúc tiến hiệu lực công cộng,” các viên chức giáo dục bang, chẳng hạn như Horace Mann và những người khác, đã tiến hành thay thế các trường do Giáo hội bảo trợ bằng “trường công.” Mann nhấn mạnh rằng “thày giáo tại bàn làm việc của họ thực thi một ơn gọi thánh hơn thừa tác viên ở tòa giảng của họ” (Glenn, 2012, tr. 40). Thứ hai, vấn đề của việc bang cổ vũ một tôn giáo cá biệt đã làm giảm đột ngột số người Công giáo Ái Nhĩ lan và Đức nhập cư ồ ạt hồi thế kỷ XIX, những người lo lắng về sự tiếp xúc với Kinh thánh Tin lành, đã đua nhau bỏ trường công và thiết lập một mạng lưới rộng lớn các trường Công giáo.

Chủ nghĩa tục hóa gia tăng của quốc gia đã dẫn đến việc dần dần loại bỏ viễn cảnh tôn giáo khỏi các trường công do bang hỗ trợ hồi cuối thế kỷ XIX và thế kỷ XX. Các di tích của Kitô giáo, chẳng hạn như các cuộc rước và bài hát Giáng sinh vẫn còn, nhưng sau Thế chiến II chẳng bao lâu thì người ta đã cố tình làm cho trường công trở thành “các vùng phi-tôn giáo.” Do vậy suốt một khoảng thời gian gần 140 năm, bang đã giành được cái mà Charles Glenn gọi là “sự gần như độc quyền giáo dục của trường công” (tr. 40), một nền giáo dục loại trừ và bác bỏ có hệ thống sự hiểu biết thần học về cuộc sống của con người.

Mười hai năm đầu thế kỷ XXI, các trường công của Mỹ dạy dỗ 88% học sinh tiểu học và trung học, chỉ có 6% theo học các trường Công giáo trước kia rất rộng lớn. Trong khi tính yếu kém tri thức của chương trình học trong hệ thống trường công và sự trống rỗng đạo đức của văn hoá của nó được thừa nhận rộng rãi, cha mẹ Công giáo có ít lựa chọn. Họ phải đóng thuế nặng cho hệ thống giáo dục do nhà nước bảo trợ hàng năm chi tiêu trung bình gần 12.000 mỹ kim cho mỗi học sinh (Ryan và Cooper, 2013, tr. 365). Để con cái của họ theo học thần học, đại đa số cha mẹ Công giáo phải dựa vào các chương trình ngắn, tuần-một-lần, do các giáo xứ điều hành. Dù được nhiều giáo viên tình nguyện đầy thiện chí dạy dỗ, ít người có hiểu biết thần học hoặc sự chuẩn bị Kinh thánh cho công việc. Ngoại trừ thiện chí của họ, giáo dục tôn giáo của giới trẻ Mỹ là một thất bại rõ rệt.

Trong những năm đầu thế kỷ XXI, cuộc nghiên cứu lớn nhất và công phu nhất của Mỹ về các thực hành và niềm tin tôn giáo của giới trẻ Mỹ được tiến hành bởi một nhóm các nhà xã hội học được Christian Smith dẫn đầu. Dưới tựa Nghiên cứu Quốc gia về Giới trẻ và Tôn giáo, nó khảo sát một mẫu được chọn kỹ lưỡng gồm 3340 thanh thiếu niên. Một trong những phát hiện gây ngạc nhiên nhất của nghiên cứu này là mức độ tương đối thấp về lòng đạo đức và tính không nghiêm của thanh thiếu niên Công giáo so với các thanh thiếu niên thuộc các truyền thống Kitô giáo khác của Mỹ. Trong số những phát hiện của họ là khi đem so với những người Tin Lành Bảo Thủ, những người Tin Lành da mầu và những người theo Giáo phái Mormon, thanh thiếu niên Công giáo:

-   Có mức tham dự các nghi lễ tôn giáo thấp hơn;

-   Tham dự các nghi lễ tôn giáo ít hơn nếu hoàn toàn để cho họ tự quyết;

-   Tường thuật rằng tôn giáo của họ ít quan trọng hơn trong việc định hình cuộc sống hàng ngày và các quyết định cuộc đời của họ;

-   Về cơ bản họ tự cảm thấy ít gần gũi với Thiên Chúa;

-   Có phần hoài nghi hơn về các niềm tin tôn giáo của họ;

-   Giảm tin rằng Thiên Chúa là hữu thể đích thân để tâm đến cuộc sống của con người ngày nay;

-   Về cơ bản giảm tin vào ngày phán xét khi đó Thiên Chúa sẽ thưởng một số người và phạt những người khác;

-   Giảm tin vào phép lạ, sự hiện hữu của các thiên thần, và cuộc sống sau khi chết;

-   Tin tưởng hơn thuyết luân hồi, thuật chiêm tinh, tâm linh học và bói toán;

-   Giảm cam kết cá nhân sống cuộc sống vì Thiên Chúa;

-   Cầu nguyện ít thường xuyên hơn;

-   Giảm tham gia vào các nhóm trẻ tôn giáo;

-   Ít thường xuyên tham dự Lớp học Chủ nhật/CCD, dự tĩnh tâm, dự hội nghị tôn giáo hoặc tập hợp hoặc cắm trại, hoặc dự một sứ vụ tôn giáo hoặc dự án phục vụ;

-   Thường xuyên hơn cho biết rằng họ buồn chán trong giáo hội;

-   Ít cho biết rằng cộng đoàn của họ giúp họ hiểu hoạt động tình dục và đạo đức tình dục riêng của họ (Smith, 2005, tr. 272-291).

 

Cuộc khảo sát cũng tường thuật rằng chỉ 19% thanh thiếu niên Công giáo Mỹ tham dự thánh lễ hàng tuần và 40% không bao giờ tham dự. Tóm lại, ánh sáng mà Nghiên cứu Quốc gia về Giới trẻ và Tôn giáo chiếu rọi về các thanh thiếu niên Công giáo thuộc nhóm người không biết hoặc không hiểu các giáo huấn cốt lõi của giáo hội của họ là gì và dường như không mấy quan tâm tới tôn giáo trong đó họ đã được sinh ra (Smith, tr. 194).

Cũng vậy, dù kém tính thực nghiệm hơn, các bài phê bình về giáo dục cao đẳng và đại học Công giáo đã cho thấy những kết quả cũng ảm đạm như thế từ những nỗ lực truyền đạt cho các sinh viên các chân lý của Tin mừng và giành được sự cam kết về hoạt động của giáo hội (Hendershott, 2009; Arthurs, 2008; Reilly, 2003). Chẳng hạn, một nghiên cứu năm 2003 phát hiện ra rằng tại các trường cao đẳng Công giáo, sự đồng thuận với giáo lý của Giáo hội về một loạt vấn đề, chẳng hạn như phá thai, tình dục trước hôn nhân và hôn nhân đồng giới, những suy giảm từ năm đầu đến năm chót (McMurtrie, tr. a. 38). Dường như cho dù những nỗ lực lịch sử của những thế hệ các linh mục, nữ tu và giáo dân tận tâm, những nỗ lực hiện nay của Giáo hội Công giáo ở Mỹ để cung cấp một nền giáo dục lành mạnh cả về thần học và khoa học đã thất bại. Liệu những thất bại này chỉ có ở Mỹ hay không thì rất đáng ngờ.

(xem tiếp)