You are here

Quyển III: Nhiệm Vụ Giáo Huấn Của Giáo Hội

QUYỂN III
NHIỆM VỤ GIÁO HUẤN CỦA GIÁO HỘI

Điều 747

§1. Chúa Kitô đã trao phó kho tàng đức tin cho Giáo Hội, để nhờ Chúa Thánh Thần phù trợ, Giáo Hội cung kính giữ gìn, tìm hiểu sâu sắc hơn, loan báo và trình bày chân lý mạc khải cách trung thành; không lệ thuộc bất cứ một quyền bính nào của con người, Giáo Hội có bổn phận và quyền bẩm sinh loan báo Tin Mừng cho mọi dân tộc bằng cả những phương tiện truyền thông xã hội thích hợp với mình.

§2. Giáo Hội phải loan báo các nguyên tắc luân lý trong mọi thời và ở mọi nơi, kể cả những nguyên tắc về trật tự xã hội, cũng như phải phán đoán về tất cả thực tại nhân sinh, trong mức độ mà các quyền căn bản của con người hay việc cứu độ các linh hồn đòi hỏi.

Điều 748

§1. Tất cả mọi người buộc phải tìm kiếm chân lý trong những gì liên quan đến Thiên Chúa và Giáo Hội của Ngài, và khi đã biết được chân lý, họ bị ràng buộc do Luật Thiên Chúa, cũng như có nghĩa vụ và có quyền chấp nhận và gìn giữ chân lý ấy.

§2. không bao giờ được phép cưỡng bách ai chấp nhận đức tin Công giáo, trái với lương tâm họ.

Điều 749

§1. Do chức vụ của mình, Đức Giáo Hoàng được ơn bất khả ngộ trong quyền giáo huấn khi ngài tuyên bố một cách quả quyết là phải giữ một học thuyết về đức tin hay về luân lý với tư cách là Chủ Chăn và là Tiến Sĩ tối cao của tất cả mọi Kitô hữu, để củng cố anh em mình trong đức tin.

§2. Giám Mục đoàn cũng được ơn bất khả ngộ trong quyền giáo huấn, khi các Giám Mục hội họp trong Công Đồng chung thi hành quyền giáo huấn với tư cách là thầy dạy và là thẩm phán về đức tin và luân lý, khi các ngài tuyên bố toàn thể Giáo Hội phải dứt khoát tuân giữ một học thuyết liên quan đến đức tin hay luân lý, hoặc khi các Giám Mục tản mác khắp thế giới vẫn giữ mối dây hiệp thông với nhau và với Đấng kế vị Thánh Phêrô, chính thức giảng dạy những điều liên quan đến đức tin hay luân lý trong sự hiệp thông với Giáo Hoàng Rôma và đồng ý về một điều của học thuyết phải được dứt khoát tuân giữ.

§3. Không một học thuyết nào được coi là được định tín cách bất khả ngộ, trừ khi đã được xác định rõ ràng như vậy.

Điều 750

§1. Phải tin với đức tin thần khởi và Công giáo tất cả những gì hàm chứa trong Lời Chúa đã được viết ra hay được truyền lại, tức là trong kho tàng đức tin duy nhất đã được trao cho Giáo Hội, và đồng thời được trình bày như là do Chúa mạc khải hoặc bởi huấn quyền long trọng, hoặc bởi huấn quyền thông thường và phổ quát của Giáo Hội, tức là những gì được biểu lộ do sự gắn bó chung của các Kitô hữu dưới sự hướng dẫn của huấn quyền thánh; bởi thế, mọi người buộc phải tránh bất cứ học thuyết nào nghịch lại với điều ấy.

§2. Phải kiên quyết đón nhận và cũng phải tuân giữ tất cả và từng điều có liên quan đến đức tin và luân lý, mà huấn quyền Giáo Hội đã trình bày một cách dứt khoát, tức là buộc phải có những điều ấy để sốt sắng tuân giữ và trình bày cách trung thực kho tàng đức tin đó; người nào dứt khoát từ chối tuân giữ những mệnh đề ấy là chống lại học thuyết của Giáo Hội Công giáo.

Điều 751

Lạc giáo là ngoan cố chối bỏ một chân lý phải tin với đức tin thần khởi và Công giáo hoặc ngoan cố hồ nghi về chân lý ấy sau khi đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội; bội giáo là chối bỏ toàn bộ đức tin Kitô giáo; ly giáo là từ chối vâng phục Đức Giáo Hoàng hoặc từ chối hiệp thông với các chi thể của Giáo Hội thuộc quyền ngài.

Điều 752

Khi Đức Giáo Hoàng hoặc Giám Mục đoàn thi hành quyền giáo huấn chính thức để tuyên bố một đạo lý trong lĩnh vực đức tin hay luân lý, ngay cả khi các ngài không có ý công bố học thuyết đó bằng một hành vi nhất định, các Kitô hữu không buộc phải chấp nhận bằng đức tin, nhưng phải lấy trí khôn và ý chí để ngoan ngoãn vâng phục; vậy họ phải liệu sao để tránh những gì không phù hợp với đạo lý ấy.

Điều 753

Các Giám Mục hiệp thông với các thủ lãnh của Giám Mục đoàn và với các thành viên, hoặc cách riêng rẽ, hoặc khi họp nhau trong các Hội Đồng Giám Mục hay trong các công đồng địa phương, mặc dầu không có ơn bất khả ngộ khi giảng dạy, các ngài vẫn là những tiến sĩ và thầy dạy chính thức về đức tin đối với các Kitô hữu được trao phó cho các ngài coi sóc; các Kitô hữu buộc phải chấp nhận huấn quyền chính thức của các Giám Mục mình với lòng cung kính vâng phục.

Điều 754

Tất cả các Kitô hữu buộc phải tuân theo các hiến chế và sắc lệnh do quyền bính hợp pháp của Giáo Hội ban hành để trình bày học thuyết và để bác bỏ các quan niệm sai lầm, và cách riêng phải tuân theo các hiến chế và sắc lệnh do Đức Giáo Hoàng hay Giám Mục đoàn ban hành.

Điều 755

§1. Trước tiên, toàn thể Giám Mục đoàn và Tông Tòa cổ vũ và hướng dẫn phong trào đại kết nơi người Công giáo, nhằm mục đích tái lập sự hiệp nhất giữa tất cả các Kitô hữu; Giáo Hội buộc phải phát huy sự hiệp nhất ấy theo ý muốn của Đức Kitô.

§2. Cũng vậy, các Giám Mục và, chiếu theo quy tắc của luật, các Hội Đồng Giám Mục cổ vũ chính sự hiệp nhất ấy và ban hành những quy tắc cụ thể, theo những nhu cầu khác nhau hoặc theo những hoàn cảnh thuận lợi, bằng cách lưu ý đến các quy định do quyền bính tối cao của Giáo Hội ban hành.

ĐỀ MỤC 1
THỪA TÁC VỤ LỜI CHÚA

Điều 756

§1. Trong những gì liên quan đến Giáo Hội phổ quát, nhiệm vụ loan báo Tin Mừng chủ yếu được ủy thác cho Đức Giáo Hoàng Rôma và Giám Mục đoàn.

§2. Trong những gì liên quan đến Giáo Hội địa phương đã được trao phó cho mình, mỗi Giám Mục thi hành nhiệm vụ ấy trong Giáo Hội địa phương với tư cách là vị điều hành toàn bộ thừa tác vụ Lời Chúa, nhưng đôi khi một số Giám Mục cùng nhau thi hành nhiệm vụ ấy cho nhiều giáo phận cùng một lúc, chiếu theo quy tắc của luật.

Điều 757

Việc loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa thuộc về riêng các linh mục, với tư cách là cộng sự viên của các Giám mục; chủ yếu là các cha sở và các linh mục khác đã lãnh nhận lãnh việc coi sóc các linh hồn đều phải giữ bổn phận này đối với đoàn dân đã được trao phó cho mình; các phó tế cũng phục vụ dân Chúa bằng thừa tác vụ Lời Chúa trong sự hiệp thông với Giám Mục và linh mục đoàn của ngài.

Điều 758

Các thành viên của các tu hội thánh hiến làm chứng cho Tin Mừng bằng một thể thức riêng, do việc được thánh hiến cho Thiên Chúa, và họ phải được Giám Mục chọn làm người trợ giúp theo thể thức thích hợp để loan báo Tin Mừng.

Điều 759

Do Bí Tích Rửa Tội và Thêm Sức, giáo dân và những chứng nhân của sứ điệp Tin Mừng bằng lời nói và bằng gương sáng đời sống Kitô giáo; họ cũng có thể được mời gọi cộng tác với Giám Mục và các linh mục trong việc thi hành thừa tác vụ Lời Chúa.

Điều 760

Mầu nhiệm Đức Kitô phải được trình bày cách nguyên vẹn và trung thành trong thừa tác vụ Lời Chúa, và thừa tác vụ Lời Chúa, phải dựa trên Thánh Kinh, Thánh Truyền, phụng vụ, huấn quyền, và đời sống của Giáo Hội.

Điều 761

Để loan báo học thuyết Kitô giáo, người ta phải dùng những phương tiện khác nhau sẵn có, trước hết việc giảng thuyết và huấn giáo luôn chiếm vị trí chủ yếu, tiếp đến là việc giảng dạy giáo lý trong các trường học, trong các học viện, trong các buổi thuyết trình và các cuộc hội họp dưới một hình thức, cũng như việc phổ biến giáo lý bằng những bản tuyên ngôn công khai do quyền bính hợp pháp thực hiện qua báo chí và các phương tiện truyền thông xã hội vào dịp xảy ra một biến cố nào đó.

CHƯƠNG 1
RAO GIẢNG LỜI CHÚA

Điều 762

Vì đoàn dân Chúa được quy tụ trước hết nhờ Lời Chúa hằng sống, cho nên việc chờ đợi Lời Chúa từ môi miệng các tư tế là điều chính đáng, và các thừa tác viên có chức thánh phải coi trọng trách nhiệm giảng thuyết, bởi vì việc loan báo Tin Mừng của Chúa cho mọi người là một trong những bổn phận chính của các ngài.

Điều 763

Các Giám Mục có quyền giảng Lời Chúa khắp mọi nơi, kể cả trong các nhà thờ và nhà nguyện của các hội dòng thuộc luật giáo hoàng, trừ khi Giám Mục địa phương đã minh nhiên cấm giảng trong những trường hợp đặc biệt.

Điều 764

Miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 765, các linh mục và phó tế có năng quyền giảng khắp mọi nơi, với sự đồng ý, ít là được suy đoán, của cha quản nhiệm nhà thờ, trừ khi Đấng Bản Quyền có thẩm quyền đã hạn chế hoặc đã rút lại năng quyền ấy, hoặc trừ khi luật địa phương đòi hỏi phải có phép minh nhiên.

Điều 765

Để giảng cho các tu sĩ trong các nhà thờ hay trong các nhà nguyện của họ, thì phải có phép của Bề Trên có thẩm quyền chiếu theo quy tắc của hiến pháp.

Điều 766

Có thể chấp nhận cho giáo dân giảng trong một nhà thờ hay một nhà nguyện, nếu nhu cầu đòi hỏi điều đó trong một số hoàn cảnh nhất định, hoặc nếu điều đó hữu ích trong những trường hợp đặc biệt, theo những quy định của Hội Đồng Giám Mục, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 767 §1.

Điều 767

§1. Trong các hình thức giảng, bài giảng lễ giữ một vị trí trổi vượt, là một phần của chính phụng vụ và được dành riêng cho tư tế hoặc phó tế; trong suốt năm phụng vụ, phải dựa vào bản văn Thánh Kinh để trình bày các mầu nhiệm đức tin và các quy tắc của đời sống Kitô giáo trong bài giảng lễ.

§2. Trong mỗi Thánh Lễ được cử hành vào các ngày Chúa Nhật và các ngày lễ buộc phải giảng lễ buộc, với sự tham dự của dân chúng, thì buộc phải giảng lễ và không được bỏ bài giảng lễ, nếu không có một lý do nghiêm trọng.

§3. Khuyến khích nên giảng lễ, nếu có khá đông dân chúng tham dự, kể cả trong các Thánh Lễ được cử hành trong tuần, nhất là trong Mùa Vọng và Mùa Chay, hoặc vào một dịp lễ, hoặc khi có một biến cố đau thương.

§4. Việc liệu sao cho các quy định này được tuân giữ một cách trang nghiêm thuộc về cha sở hoặc cha quản nhiệm nhà thờ.

Điều 768

§1. Những người giảng Lời Chúa trước hết phải trình bày cho các Kitô hữu biết những điều phải tin và những việc phải làm vì vinh quang của Thiên Chúa và phần rỗi loài người.

§2. Họ cũng phải truyền đạt cho các tín hữu biết học thuyết của huấn quyền Giáo Hội về phẩm giá và tự do của con người, về sự duy nhất và sự vững bền cũng như các trách nhiệm của gia đình, về những nghĩa vụ liên quan đến những người được liên kết với nhau trong xã hội, và về việc tổ chức các việc trần thế theo trật tự Thiên Chúa đã thiết lập.

Điều 769

Học thuyết Kitô giáo phải được trình bày một cách thích hợp với hoàn cảnh của các thính giả và phù hợp với các nhu cầu của thời đại.

Điều 770

Vào những thời kỳ nhất định, chiếu theo các quy định của Giám Mục giáo phận, các cha sở phải tổ chức những buổi giảng thuyết được gọi là tĩnh tâm và những tuần đại phúc, hay những hình thức giảng thuyết khác phù hợp với nhu cầu.

Điều 771

§1. Các vị chủ chăn các linh hồn, nhất là các Giám Mục và các cha sở, phải quan tâm thế nào để Lời Chúa cũng được loan báo cho các tín hữu không được hưởng nhờ đầy đủ sự chăm sóc mục vụ chung và thông thường, hoặc hoàn toàn không được hưởng nhờ sự chăm sóc này, vì hoàn cảnh sinh sống của họ.

§2. Các ngài cũng phải liệu sao để sứ điệp Tin Mừng được truyền đến những người không tin đang ở trong địa hạt mình, bởi vì việc coi sóc các linh hồn phải được nới rộng tới họ cũng như tới các tín hữu.

Điều 772

§1. Về việc giảng thuyết, mọi người còn phải tuân giữ các quy tắc do Giám Mục giáo phận thiết lập.

§2. Để giảng học thuyết Kitô giáo trên truyền thanh hoặc truyền hình, thì phải tuân giữ các quy định do Hội Đồng Giám Mục thiết lập.

CHƯƠNG 2
HUẤN GIÁO

Điều 773

Nhiệm vụ riêng và quan trọng của các chủ chăn, nhất là những vị coi sóc các linh hồn, là phải bảo đảm việc huấn giáo cho dân Chúa, đề đức tin các tín hữu trở nên sống động, sáng suốt và hiệu nghiệm nhờ việc dạy giáo lý và nhờ kinh nghiệm đời sống Kitô giáo.

Điều 774

§1. Việc quan tâm đến huấn giáo, dưới sự điều hành của nhà chức trách Giáo Hội hợp pháp, thuộc về tất cả mọi thành phần của Giáo Hội, mỗi người theo phần mình.

§2. Trước hết, các bậc cha mẹ buộc phải dùng lời nói và gương sáng để đào tạo con cái mình trong đức tin và trong thực hành đời sống Kitô giáo; các người thay quyền cha mẹ cũng như các người đỡ đầu đều có cùng một nghĩa vụ như nhau.

Điều 775

§1. Miễn là vẫn giữ nguyên các quy định do Tông Tòa ban hành, Giám Mục giáo phận ban hành những quy tắc về việc huấn giáo và liệu sao để có sẵn những phương tiện thích hợp cho việc huấn giáo, kể cả việc soạn thảo sách giáo lý, nếu thấy thuận lợi, cũng như cổ vũ và phối trí các sáng kiến trong lĩnh vực này.

§2. Nếu thấy hữu ích, Hội Đồng Giám Mục liệu sao để phát hành sách giáo lý trong địa hạt mình, với sự phê chuẩn trước của Tông Tòa.

§3. Hội Đồng Giám Mục có thể thành lập một văn phòng huấn giáo mà nhiệm vụ chính là phải giúp đỡ mỗi giáo phận trong việc huấn giáo.

Điều 776

Cha sở, do nhiệm vụ mình, buộc phải huấn giáo các người thành niên, thanh thiếu niên và trẻ em; để đạt được mục đích này, ngài phải nhờ đến sự cộng tác của các giáo sĩ thuộc giáo xứ, của các thành viên các tu hội thánh hiến và của các thành viên các tu đoàn tông đồ, nhưng phải lưu ý đến đặc tính của mỗi hội dòng, cũng như phải nhờ đến sự cộng tác của giáo dân, nhất là các giáo lý viên; mọi người trên đây phải sẵn lòng cộng tác, trừ khi có ngăn trở chính đáng. Cha sở phải giúp đỡ và cổ vũ trách nhiệm của các bậc cha mẹ phải giúp đỡ và cổ vũ trách nhiệm của các bậc cha mẹ về việc huấn giáo trong gia đình, được nói đến ở điều 774 §2.

Điều 777

Chiếu theo các quy tắc do Giám Mục giáo phận thiết lập, cha sở phải đặc biệt liệu sao để:

10 huấn giáo thích hợp nhằm việc cử hành các bí tích;

20 các trẻ em được chuẩn bị đúng cách về về xưng tội và rước lễ lần đầu, cũng như việc lãnh nhận bí tích Thêm Sức, nhờ việc giảng dạy giáo lý trong một thời gian thích hợp;

30 các em này được đào tạo về giáo lý một cách dồi dào hơn và thâm sâu hơn, sau khi đã được rước lễ lần đầu;

40 huấn giáo cả những người tàn tật về thể xác hoặc tinh thần, trong mức độ mà hoàn cảnh của họ cho phép;

50 đức tin của thanh thiếu niên và của người thành niên được củng cố, được soi sáng và được phát triển nhờ những thể thức và những sáng kiến khác nhau.

Điều 778

Các Bề Trên của các hội dòng và của các tu đoàn tông đồ phải liệu sao để ân cần thực hiện việc giảng dạy giáo lý trong các nhà thờ, các trường học và các cơ sở khác đã được ủy thác cho mình cách nào đó.

Điều 779

Phải dùng mọi cách thế, mọi phương tiện chuyên môn và mọi phương tiện truyền thông xã hội được xem là hữu hiệu nhất để giảng dạy giáo lý, ngõ hầu các tín hữu có thể học giáo lý Công giáo cách thấu đáo, theo một phương pháp thích hợp với tính tình, khả năng tuổi tác và hoàn cảnh sinh sống của họ, và đem ra thực hành cách chu đáo hơn.

Điều 780

Các Đấng Bản Quyền địa phương phải liệu sao cho các giáo lý viên được chuẩn bị kỹ càng để chu toàn nhiệm vụ của mình, nghĩa là họ phải được đào tạo liên tục, phải thông thạo giáo lý của Giáo Hội và phải học hỏi các nguyên tắc riêng của khoa sư phạm, trên lý thuyết cũng như trong thực hành.

ĐỀ MỤC 2
HOẠT ĐỘNG TRUYỀN GIÁO CỦA GIÁO HỘI

Điều 781

Vì toàn thể Giáo Hội mang tính cách truyền giáo do bản chất của mình và vì việc truyền giáo phải được coi là một bổn phận căn bản của dân Chúa, cho nên mọi Kitô hữu ý thức được trách nhiệm riêng của mình phải tham gia vào công cuộc truyền giáo.

Điều 782

§1. Việc chỉ đạo tối cao cũng như việc phối trí các sáng kiến và các hoạt động liên quan đến công cuộc truyền giáo và đến sự cộng tác truyền giáo thuộc thẩm quyền của Đức Giáo Hoàng Rôma và Giám Mục đoàn.

§2. Mỗi Giám Mục, với tư cách là người chia sẻ trách nhiệm của Giáo Hội phổ quát và của mọi Giáo Hội, phải đặc biệt quan tâm đến công cuộc truyền giáo, nhất là bằng cách phát động, cổ vũ và nâng đỡ các sáng kiến truyền giáo trong Giáo Hội địa phương của mình.

Điều 783

Các thành viên của các tu hội thánh hiến dấn thân phục vụ Giáo Hội do chính sự thánh hiến của mình, cho nên họ buộc phải hoạt động cách đặc biệt cho công cuộc truyền giáo, theo thể thức riêng của hội dòng.

Điều 784

Các vị thừa sai, tức là những người được nhà chức trách có thẩm quyền của Giáo Hội sai đi để thực hiện công cuộc truyền giáo, có thể được tuyển chọn từ những người bản xứ hay không, hoặc là những giáo sĩ triều, hoặc là những thành viên của các tu hội thánh hiến hay của các tu đoàn tông đồ, hoặc là những giáo dân khác.

Điều 785

§1. Để thực hiện công cuộc truyền giáo, phải chọn các giáo lý viên, tức là những giáo dân đã được đào tạo thích đáng và nổi bật về đời sống Kitô hữu, để họ chuyên lo việc giảng dạy giáo lý Phúc Âm dưới sự hướng dẫn của vị thừa sai, cũng như việc tổ chức các buổi cử hành phụng vụ và các việc bác ái.

§2. Các giáo lý viên phải được đào tạo trong các trường học dành cho mục đích ấy, nếu không có các trường đó, thì họ phải được các thừa sai hướng dẫn.

Điều 786

Nhờ hoạt động truyền giáo đích thực, Giáo Hội hội nhập vào những dân tộc hay những sắc dân nơi Giáo Hội chưa bén rễ, nhất là Giáo Hội thực hiện hoạt động này bằng cách sai các sứ giả Tin Mừng, cho đến khi những Giáo Hội mới được thiết lập toàn vẹn, nghĩa là khi những Giáo Hội này có sức sống riêng và có đủ phương tiện để có thể tự đảm nhận công việc truyền giáo.

Điều 787

§1. Bằng chứng tá đời sống và bằng lời nói của mình, các thừa sai phải chân thành đối thoại với những người không tin vào Đức Kitô, để mở ra cho họ những con đường có thể dẫn họ tới việc nhận biết sứ điệp Tin Mừng, bằng một phương thế thích hợp với tâm tình và văn hóa của họ.

§2. Các ngài phải giảng dạy những chân lý đức tin cho những người mà các ngài xét là đã sẳn sàng đón nhận sứ điệp Tin Mừng, để họ có thể được lãnh nhận bí tích Rửa Tội, khi họ tư ý xin điều ấy.

Điều 788

§1. Những ai đã tỏ ý muốn tin nhận Đức Kitô, một khi đã mãn thời gian tiền dự tòng, phải được nhận vào hàng dự tòng bằng những nghi thức phụng vụ và tên của họ phải được ghi vào một cuốn sổ dành cho việc ấy.

§2. Nhờ việc đào tạo và tập luyện đời sống Kitô giáo, các dự tòng phải được khai tâm về mầu nhiệm cứu độ và phải được dẫn vào đời sống đức tin, phụng vụ và bác ái của dân Chúa, cũng như vào việc tông đồ.

§3. Hội Đồng Giám Mục ban hành những quy chế tổ chức tình trạng dự tòng, bằng cách xác định những điều kiện mà các dự tòng buộc phải có và quy định những đặc ân họ được hưởng.

Điều 789

Các tân tòng phải được đào tạo bằng một lối giảng dạy thích hợp để nhận biết chân lý Tin Mừng sâu sắc hơn và để chu toàn các bổn phận đã được lãnh nhận qua bí tích Rửa Tội, họ phải được thấm nhuần tình yêu chân thành đối với Đức Kitô và Giáo Hội của Ngài.

Điều 790

§1. Các Giám Mục giáo phận trong các miền truyền giáo:

10 cổ vũ, điều khiển và phối trí các sáng kiến và công việc liên quan đến sinh hoạt truyền giáo;

20 liệu sao để ký các hợp đồng cần thiết với các vị Điều Hành các tu hội chuyên hoạt động truyền giáo và để cho mối tương quan với các vị ấy đem lại ích lợi cho việc truyền giáo.

§2. Tất cả các thừa sai, kể cả các tu sĩ, cũng như các trợ tá của họ đang sống dưới quyền tài phán của Giám Mục giáo phận, phải tuân theo các quy định do ngài ban hành được nói đến ở §1, 10.

Điều 791

Để cổ vũ việc cộng tác truyền giáo, mỗi giáo phận phải:

10 khích lệ các ơn gọi truyền giáo;

20 cử một linh mục chiụ trách nhiệm cổ vũ cách hữu hiệu những công cuộc truyền giáo, nhất là các Hội Giáo Hoàng Truyền Giáo;

30 cử hành hằng năm khánh nhật truyền giáo;

40 quyên góp cho việc truyền giáo một số tiền tương xứng và chuyển về Tòa Thánh hằng năm.

Điều 792

Các Hội Đồng Giám Mục phải thành lập và khuyến khích những tổ chức, nhờ đó những người từ các miền truyền giáo đến địa hạt của mình để làm việc hay để học hành được tiếp đón trong tình huynh đệ và được nâng đỡ một cách thích đáng về phương diện mục vụ.

ĐỀ MỤC 3
GIÁO DỤC CÔNG GIÁO

Điều 793

§1. Các bậc cha mẹ, cũng như những người thay quyền cha mẹ, có nghĩa vụ và có quyền giáo dục con cái mình; các bậc cha mẹ Công giáo cũng có nghĩa vụ và cũng có quyền chọn những phương tiện và những trường học, để nhờ đó họ có thể lo liệu việc giáo dục Công giáo cho con cái họ một cách chu đáo hơn, tùy theo hoàn cảnh địa phương.

§2. Các bậc cha mẹ cũng có quyền được xã hội dân sự giúp đỡ những gì họ cần đến để bảo đảm cho việc giáo dục Công giáo của con cái họ.

Điều 794

§1. Với tư cách đặc biệt, nghĩa vụ và quyền giáo dục thuộc về Giáo Hội, bởi vì chính Chúa đã trao cho Giáo Hội sứ mạng giúp đỡ loài người, để họ có thể đạt tới sự viên mãn của đời sống Kitô giáo.

§2. Các chủ chăn linh hồn có bổn phận phải chuẩn bị để mọi tín hữu đều được hưởng một nền giáo dục Công giáo.

Điều 795

Vì việc giáo dục chân chính phải nhằm mục đích đào tạo toàn diện con người, và dồng thời phải hướng về mục đích tối hậu của con người cũng như lợi ích chung của xã hội, cho nên các trẻ em và các thanh thiếu niên phải được đào tạo thế nào để họ có thể phát triển cách hài hòa những tài năng thể lý, luân lý và trí tuệ của mình, để họ có được một ý thức hoàn hảo hơn về trách nhiệm và biết sử dụng đúng đắn sự tự do của mình, và để họ trở thành những người có khả năng tham gia tích cực vào đời sống xã hội.

CHƯƠNG 1
TRƯỜNG HỌC

Điều 796

§1. Trong số các phương tiện giáo dục, các Kitô hữu phải nhận thức rằng các trường học có một tầm quan trọng đặc biệt, vì trường học là sự trợ lực chính yếu của cha mẹ trong nhiệm vụ giáo dục.

§2. Các bậc cha mẹ phải cộng tác chặt chẽ với các giáo viên trường học mà họ đã ủy thác việc giáo dục con cái mình; còn các giáo viên khi thi hành nghiệp vụ phải cộng tác chặt chẽ với các bậc cha mẹ và phải vui lòng lắng nghe họ; phải thành lập và phải đề cao những hiệp hội hoặc những buổi gặp gỡ các phụ huynh.

Điều 797

Các bậc cha mẹ phải được thật sự tự do trong việc chọn trường học; bởi vậy các Kitô hữu phải liệu sao cho xã hội dân sự công nhận các bậc cha mẹ có quyền tự do ấy, đồng thời bảo vệ quyền tự do ấy, kể cả bằng những trợ cấp dựa vào đức công bình phân phối.

Điều 798

Các bậc cha mẹ phải trao phó con cái mình cho những trường học nào có một nền giáo dục Công giáo; nếu không thể làm được như thế, các bậc cha mẹ buộc phải liệu sao để có được một nền giáo dục Công giáo cần thiết cho con cái mình ngoài trường học.

Điều 799

Các Kitô hữu phải cố gắng thế nào để trong xã hội dân sự có được các luật lệ chi phối việc đào tạo thanh thiếu niên và bảo đảm việc giáo dục tôn giáo và luân lý của thanh thiếu niên theo lương tâm của các bậc cha mẹ tại chính các trường học.

Điều 800

§1. Giáo Hội có quyền thành lập và điều khiển các trường thuộc mọi ngành, mọi loại và mọi cấp.

§2. Các Kitô hữu phải cổ vũ các trường Công giáo bằng cách góp phần vào việc thành lập và nâng đỡ các trường ấy, tùy theo khả năng của mình.

Điều 801

Các hội dòng nào có sứ mệnh chuyên về giáo dục, thì phải trung thành duy trì sứ mệnh ấy và phải tích cực dấn thân vào việc giáo dục Công giáo, ngay cả trong những trường học của hội dòng được thành lập với sự chấp của Giám Mục giáo phận.

Điều 802

§1. nếu không có các trường học đảm nhận một nền giáo dục thấm nhuần tinh thần Kitô giáo, thì Giám Mục giáo phận phải liệu sao để các trường ấy được thành lập.

§2. Ở đâu thấy thuận lợi, Giám Mục giáo phận phải liệu sao để những trường chuyên nghiệp và kỹ thuật cũng được thành lập cùng với những trường học khác do nhu cầu đặc biệt đòi hỏi.

Điều 803

§1. Trường học Công giáo là trường do nhà chức trách có thẩm quyền Của Giáo Hội hoặc do một pháp nhân công của Giáo Hội điều hành, hoặc được nhà chức trách Giáo Hội nhìn nhận là như thế qua một văn bản.

§2. Việc dạy học và việc giáo dục trong một trường học Công giáo phải dựa trên những nguyên tắc của học thuyết Công giáo; giáo viên phải trổi vượt về đạo lý chân chính và về đời sống trung thực.

§3. Không một trường học nào, dù thực sự là Công giáo, được mệnh danh là trường học Công giáo, nếu không được sự chấp thuận của nhà chức trách có thẩm quyền của Giáo Hội.

Điều 804

§1. Việc dạy học và việc giáo dục tôn giáo mang tính cách Công giáo được thực hiện trong bất cứ trường học nào, hoặc được truyền đi bằng những phương tiện truyền thông xã hội khác nhau, đều phải tùy thuộc quyền bính của Giáo Hội; Hội Đồng Giám Mục ban hành nhũng quy tắc tổng quát liên quan đến phạm vi hoạt động này, và các Giám Mục giáo phận tổ chức và giám sát phạm vi này.

§2. Đấng bản quyền địa phương phải liệu sao cho những giáo viên được chỉ định dạy về tôn giáo trong các trường học, kể cả các trường học không Công giáo, phải là những người nổi bật về đạo lý chân chính, về chứng tá đời sống Kitô và về chuyên môn sư phạm.

Điều 805

Đấng bản quyền địa phương có quyền bổ nhiệm hoặc chuẩn nhận các giáo viên trong giáo phận mình để dạy về tôn giáo và cũng có quyền giải nhiệm họ hoặc yêu cầu họ bãi nhiệm, nếu có một lý do tôn giáo hay thuần phong mỹ tục đòi buộc.

Điều 806

§1. Giám Mục giáo phận có quyền trông nom và đi thăm các trường học Công giáo ở trong địa hạt của mình, kể cả những trường do các thành viên của các hội dòng thành lập hay điều khiển; ngài cũng có quyền ban hành những quy định liên quan đến việc tổ chức chung của các trường học Công giáo; các quy định này cũng có giá trị đối với những trường do các thành viên của các hội dòng đó điều khiển, miễn là vẫn giữ nguyên tính cách tự trị của hội dòng về việc điều hành nội bộ của các trường ấy.

§2. Dưới sự giám sát của Đấng Bản Quyền địa phương, các vị Điều Hành các trường học Công giáo phải liệu sao để việc giảng dạy ở trường mình phải có ít là cùng một trình độ như ở các trường học khác trong miền, và phải trổi vượt về phương diện khoa học.

CHƯƠNG 2
CÁC ĐẠI HỌC CÔNG GIÁO
VÀ CÁC VIỆN CAO HỌC KHÁC

Điều 807

Giáo Hội có quyền thành lập và điều khiển các trường đại học để góp phần đưa nền văn hóa nhân loại lên cao hơn và thăng tiến con người cách đầy đủ hơn, cũng như để chu toàn nhiệm vụ giáo huấn của chính mình.

Điều 808

Không một trường đại học nào, dù thực sự là Công giáo, được mang tước hiệu hay được mệnh danh là trường đại học Công giáo, nếu không được sự chấp thuận của nhà chức trách có thẩm quyền của Giáo Hội.

Điều 809

Nếu có thể và nếu thuận lợi, các Hội Đồng Giám Mục phải liệu sao để có những đại học hoặc ít là những phân khoa được phân phối cách thích hợp trong địa hạt mình, nhằm đào sâu và giảng dạy các môn học khác nhau, tuy vẫn tôn trọng tính tự trị của các môn học ấy về mặt khoa học, nhưng phải lưu ý tới học thuyết Công giáo.

Điều 810

§1. Chiếu theo quy chế, nhà chức trách có thẩm quyền phải liệu sao để bổ nhiệm cho các đại học Công giáo những giảng viên trổi vượt chẳng những về khả năng khoa học và sư phạm, mà còn về giáo lý toàn vẹn và đời sống trung thực nữa, cũng như để giải nhiệm họ, nếu họ thiếu các điều kiện ấy, miễn là vẫn tôn trọng thủ tục do quy chế xác định.

§2. Các Hội Đồng Giám Mục và các Giám Mục liên hệ có bổn phận và có quyền lo liệu thế nào để các nguyên tắc của học thuyết Công giáo được trung thành tuân giữ trong các trường đại học ấy.

Điều 811

§1. Nhà chức trách có thẩm quyền của Giáo Hội phải liệu sao để thành lập trong các trường đại học công giáo một phân khoa, hoặc một học viện, hoặc ít là một diễn đàn thần học, trong đó cũng có những lớp học cho học viên giáo dân nữa.

§2. Trong mỗi trường đại học Công giáo phải có những lớp thảo luận nhất là về những vấn nạn thần học liên hệ đến các môn học được dạy trong những phân khoa ấy.

Điều 812

Những người dạy các môn thần học trong bất cứ viện cao học nào đều phải có ủy nhiệm thư của nhà chức trách có thẩm quyền của Giáo Hội.

Điều 813

Giám Mục giáo phận phải tha thiết quan tâm đến việc mục vụ cho các học viên, kể cả bằng việc thành lập một giáo xứ, hay ít ra bằng việc bổ nhiệm những tư tế cho nhiệm vụ ấy cách cố định, và ngài phải liệu sao để bên cạnh các trường đại học, kể cả các trường đại học không Công giáo, có những trung tâm đại học Công giáo để giúp đỡ giới trẻ, nhất là về mặt thiêng liêng.

Điều 814

Những quy định đã được ấn định cho các trường đại học cũng có giá trị như thế đối với các viện cao học khác.

CHƯƠNG 3
CÁC ĐẠI HỌC
VÀ CÁC PHÂN KHOA GIÁO SĨ

Điều 815

Do sứ mạng loan báo chân lý mạc khải, Giáo Hội có những trường đại học riêng hay những phân khoa giáo sĩ, để đào sâu các môn học thánh hay các môn học liên hệ với các môn học thánh và để đào tạo những học viên trong chính các môn học ấy theo phương pháp khoa học.

Điều 816

§1. Các trường đại học và các phân khoa giáo sĩ chỉ có thể được thiết lập, nếu đã được Tông Tòa thiết lập hoặc phê chuẩn; việc chỉ đạo tối cao các trường đại học và các phân khoa ấy cũng thuộc về Tông Tòa.

§2. Mỗi trường đại học và mỗi phân khoa dành cho giáo sĩ phải có những quy chế riêng và chương trình học được Tông Tòa phê chuẩn.

Điều 817

Không một trường đại học nào hay một phân khoa nào có thể cấp văn bằng đại học có hiệu lực giáo luật trong Giáo Hội, nếu không được Tông Tòa thành lập hay phê chuẩn.

Điều 818

Những quy định đã được ấn định cho các trường đại học Công giáo trong các điều 810, 812 và 813, cũng có giá trị đối với các trường đại học và các phân khoa giáo sĩ.

Điều 819

Trong mức độ mà ích lợi của giáo phận hoặc của hội dòng, hoặc của chính Giáo Hội phổ quát đòi hỏi, các Giám Mục giáo phận hoặc các Bề Trên có thẩm quyền của các hội dòng phải gửi vào các trường đại học hay các phân khoa giáo sĩ những người trẻ, những giáo sĩ và những tu sĩ xuất sắc về tính tình, đức hạnh và tài năng.

Điều 820

Các vị Điều Hành và các giảng viên của các trường đại học và các phân khoa giáo sĩ phải liệu sao cho các phân khoa khác nhau của trường đại học cộng tác với nhau trong mức độ mà vấn đề cho phép, và cũng phải liệu sao cho trường đại học hay phân khoa riêng của mình cộng tác với các trường đại học và các phân khoa khác, cho dầu không dành cho giáo sĩ, nhờ sự cộng tác đó các trường đại học và các phân khoa ấy hiệp thương với nhau và cùng nhau làm việc qua những cuộc gặp gỡ, qua những cuộc nghiên cứu khoa học phối hợp và bằng những phương tiện khác, để làm cho khoa học tiến bộ thêm.

Điều 821

Ở đâu có thể được, Hội Đồng Giám Mục và Giám mục giáo phận phải liệu sao để thành lập những viện cao học về khoa học tôn giáo, trong đó phải dạy các môn thần học và các môn học khác liên quan đến văn hóa Kitô giáo.

ĐỀ MỤC 4
CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI
VÀ CÁCH RIÊNG SÁCH BÁO

Điều 822

§1. Khi sử dụng quyền riêng của Giáo Hội để chu toàn nhiệm vụ của mình, các vị chủ chăn của Giáo Hội phải cố gắng dùng các phương tiện truyền thông xã hội.

§2. Chính các vị chủ chăn ấy phải lo dạy các tín hữu biết bổn phận của họ là phải cộng tác thế nào để tinh thần nhân bản và Kitô giáo làm sinh động việc sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội.

§3. Tất cả mọi Kitô hữu, nhất là những người tham gia cách nào đó vào việc tổ chức hay sử dụng các phương tiện ấy, phải quan tâm giúp đỡ sinh hoạt mục vụ thế nào để Giáo Hội thi hành nhiệm vụ của mình cách hữu hiệu qua các phương tiện ấy.

Điều 823

§1. Để bảo tồn sự toàn vẹn của đức tin và phong hóa, các chủ chăn của Giáo Hội có bổn phận và có quyền liệu sao cho các tác phẩm hay việc sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội không phương hại đến đức tin hay phong hóa của các Kitô hữu; các ngài cũng có bổn phận và có quyền đòi kiểm duyệt những tác phẩm liên quan đến đức tin hay phong hóa do các Kitô hữu đề nghị xuất bản và loại bỏ những tác phẩm nguy hại cho đức tin ngay lành và cho thuần phong mỹ tục.

§2. Bổn phận và quyền được nói đến ở §1 thuộc về các Giám Mục, cách riêng rẽ cũng như khi họp nhau trong các công đồng địa phương hay trong các Hội Đồng Giám Mục, đối với các Kitô hữu đã được trao cho các ngài coi sóc, nhưng bổn phận và quyền đó thuộc về quyền bính tối cao của Giáo Hội, đối với toàn thể dân Chúa.

Điều 824

§1. Trừ khi đã ấn định cách khác, Đấng Bản Quyền địa phương cho phép xuất bản sách hoặc phê chuẩn sách để xuất bản, theo các điều của đề mục này, là Đấng Bản Quyền địa phương của tác giả hoặc Đấng Bản Quyền địa phương tại nơi xuất bản sách.

§2. Những quy định về sách được ấn định trong các điều của đề mục này được áp dụng cho tất cả mọi tác phẩm được dự định xuất bản, trừ khi đã thấy rõ cách khác.

Điều 825

§1. Chỉ được xuất bản sách Thánh Kinh với sự phê chuẩn của Tông Tòa hoặc của Hội Đồng Giám Mục; cũng vậy, để xuất bản các bản dịch Thánh Kinh bằng tiếng bản xứ, các bản dịch ấy phải được chính nhà chức trách đó phê chuẩn và đồng thời phải có những chú giải cần thiết và đầy đủ.

§2. Với phép của Hội Đồng Giám Mục, các Kitô hữu Công giáo có thể soạn và xuất bản những bản dịch Thánh Kinh với nhũng chú giải thích hợp, kể cả với sự cộng tác của các anh em ly khai.

Điều 826

§1. Phải giữ các quy định của các điều 838 về các sách phụng vụ.

§2. Để tái bản các sách phụng vụ và các bản dịch của sách phụng vụ tiếng bản xứ hoặc một phần của các sách ấy, thì phải chắc chắn là các sách ấy phù hợp với sách xuất bản đã được phê chuẩn do lời chứng thực của Đấng Bản Quyền địa phương tại nơi xuất bản sách.

§3. không được xuất bản các sách kinh để các tín hữu dùng chung hoặc riêng, nếu không có phép của Đấng Bản Quyền địa phương.

Điều 827

§1. Để xuất bản các sách giáo lý, hoặc các tác phẩm khác liên quan đến việc giảng dạy giáo lý, hoặc các bản dịch của các sách ấy, phải có sự phê chuẩn của Đấng Bản Quyền địa phương, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 775 §2.

§2. Trừ khi đã được xuất bản với sự phê chuẩn của nhà chức trách có thẩm quyền của Giáo Hội, hoặc được nhà chức trách này chuẩn nhận sau khi xuất bản, các sách bàn về những vấn đề liên quan đến Thánh Kinh, thần học, giáo luật, giáo sử hay các môn học về tôn giáo hay luân ký, không được sử dụng như là những bản văn căn bản để giảng dạy trong các trường tiểu học, trung học hoặc cao học.

§3. Nên trao cho Đấng Bản Quyền kiểm duyệt các sách bàn về những vấn được đề nói đến ở §2, cho dù các sách đó không được dùng làm bản văn để giảng dạy, cũng như những tác phẩm có nội dung liên quan đặc biệt đến tôn giáo hay sự đứng đắn của phong hóa.

§4. Những sách hay những tác phẩm khác bàn về những vấn đề tôn giáo hay luân lý không thể được trưng bày, bán hoặc phát trong các nhà thờ hay nhà nguyện, nếu các sách ấy đã không được nhà chức trách có thẩm quyền của Giáo Hội cho phép xuất bản hoặc đã không được nhà chức trách ấy chuẩn nhận sau khi xuất bản.

 Điều 828

Không được phép tái bản những bộ sưu tập các sắc lệnh và văn kiện đã được nhà chức trách Giáo Hội xuất bản, nếu không được chính nhà chức trách ấy cho phép trước và nếu không tuân giữ các điều kiện do chính nhà chức trách ấy đặt ra.

Điều 829

Việc phê chuẩn hay việc cho phép xuất bản một tác phẩm chỉ có giá trị đối với nguyên bản, chứ không có giá trị đối với các lần tái bản khác hay cho các bản dịch.

Điều 830

§1. Tuy mỗi Đấng Bản Quyền có toàn quyền trao về việc kiểm duyệt các sách cho những người được ngài chuẩn nhận, nhưng Hội Đồng Giám Mục có thể lập danh sách kiểm duyệt viên trổi vượt về kiến thức, về đạo lý ngay lành và về khôn ngoan, để phục vụ các tòa giám mục giáo phận, hoặc cũng có thể thiết lập một ban kiểm duyệt để các Đấng Bản Quyền địa phương có thể tham khảo ý kiến.

§2. Khi thi hành nhiệm vụ của mình, kiểm duyệt viên phải loại bỏ mọi thiên vị và chỉ cần chú ý đến học thuyết của Giáo Hội về đức tin và phong hóa mà thôi, như đã được huấn quyền của Giáo Hội trình bày.

§3. Kiểm duyệt viên phải cho biết ý kiến mình bằng văn ản, nếu là ý kiến thuận, thì Đấng Bản Quyền phải cho phép xuất bản, theo sự phán đoán khôn ngoan của mình, bằng cách ghi rõ tên mình, cũng như ngày và nơi cho phép; nếu Đấng Bản Quyền không cho phép xuất bản, thì ngài phải thông báo cho tác giả biết các lý do từ chối.

Điều 831

§1. Các Kitô hữu không được viết gì trong các nhật báo, tập san, tạp chí định kỳ thường công khai đả kích đạo Công giáo hoặc thuần phong mỹ tục, nếu không có một lý do chính đáng và hợp lý; còn các giáo sĩ và các thành viên của hội dòng chỉ viết khi có phép của Đấng Bản Quyền địa phương mà thôi.

§2. Hội Đòng Giám Mục ấn định những quy tắc về những điều kiện phải có để cho phép các giáo sĩ và các thành viên của các hội dòng được tham gia vào các buổi phát thanh hoặc truyền hình bàn về những vấn đề liên quan đến học thuyết Công giáo hoặc phong hóa.

Điều 832

Để có thể xuất bản những tác phẩm đề cập đến những vấn đề tôn giáo hay luân lý, các thành viên của các tu hội dòng cũng phải có phép của Bề Trên cấp cao của mình chiếu theo hiến pháp.

ĐỀ MỤC 5
TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN

Điều 833

Những vị sau đây buộc phải đích thân tuyên xưng đức tin theo công thức do Tông Tòa phê chuẩn:

10 tất cả những vị tham dự Công Đồng chung hay công đồng địa phương, Thượng Hội Đồng Giám Mục hay công nghị giáo phận, với quyền biểu quyết hay với quyền tư vấn, phải tuyên xưng đức tin trước mặt vị chủ tịch hoặc vị thụ ủy của ngài; còn vị chủ tịch thì phải tuyên xưng đức tin trước Công Đồng hoặc Thượng Hội Đồng;

20 những vị được vinh thăng Hồng Y phải tuyên xưng đức tin theo quy chế của Hồng Y đoàn;

30 tất cả những vị được thăng chức Giám Mục; cũng như những vị được đồng hóa với Giám Mục giáo phận phải tuyên xưng đức tin trước mặt vị thủ ủy của Tông Tòa;

40 Giám Quản giáo phận phải tuyên xưng đức tin trước ban tư vấn;

50 các Tổng Đại Diện và các Đại Diện Giám Mục, cùng các Đại Diện tư pháp phải tuyên xưng đức tin trước mặt Giám Mục giáo phận hay vị thụ ủy của ngài;

60 các cha sở, cha giám đốc và các giáo sư thần học và triết học trong các chủng viện khi nhậm chức, các tiến chức phó tế, phải tuyên xưng đức tin trước mặt Đấng Bản Quyền địa phương hay vị thụ ủy của ngài;

70 viện trưởng đại học dành cho giáo sĩ hay đại học Công giáo khi nhậm chức, phải tuyên xưng đức tin trước mặt vị Đại Chưởng Ấn, hoặc nếu không có vị này, thì trước mặt Đấng Bản Quyền địa phương hay các thụ ủy của các ngài. Còn các giảng viên dạy các môn học liên quan đến đức tin hay luân lý trong bất cứ đại học nào, khi nhậm chức, phải tuyên xưng đức tin trước mặt viện trưởng, nếu vị này là tư tế, hoặc trước mặt Đấng Bản Quyền địa phương hay các vị thụ ủy của các ngài;

80 các Bề Trên trong các hội dòng giáo sĩ và trong các tu đoàn tông đồ giáo sĩ phải tuyên xưng đức tin, chiếu theo quy tắc của hiến pháp.

Trở về Mục Lục