You are here

Quyển IV: Nhiệm Vụ Thánh Hóa Của Giáo Hội

QUYỂN IV
NHIỆM VỤ THÁNH HÓA CỦA GIÁO HỘI

Điều 834

§1. Giáo Hội chu toàn nhiệm thánh hóa của mình cách riêng nhờ phụng vụ thánh; thực vậy, phụng vụ thánh được coi là việc thi hành nhiệm vụ tư tế của Đức Giêsu Kitô, trong đó, bằng những dấu chỉ khả giác, việc thánh hóa con người được biểu hiện và được thể hiện theo cách thức riêng của mỗi dấu chỉ, đồng thời việc phụng tự công nguyên vẹn dâng lên Thiên Chúa được thực hiện do Đầu và các chi thể của Nhiệm Thể Đức Giêsu Kitô.

§2. Việc thờ phượng như thế được thực hiện mỗi khi được cử hành nhân danh Giáo Hội, do những người được đề cử cách hợp pháp, và bằng những hành vi được quyền bính của Giáo Hội chuẩn nhận.

Điều 835

§1. Nhiệm vụ thánh hóa được thi hành trước hết bởi các Giám Mục, là những vị đại tư tế, những người phân phát chính yếu các mầu nhiệm của Thiên Chúa, là những người điều hành, những người cổ vũ, và là những người bảo toàn tất cả sinh hoạt phụng vụ trong Giáo Hội được trao phó cho các ngài.

§2. Các linh mục cũng thi hành nhiệm vụ thánh hóa, bởi vì chính các vị cũng thông phần vào chức tư tế của Đức Kitô với tư cách là những thừa tác viên của Ngài dưới quyền Giám Mục, các vị được thánh hiến để cử hành việc thờ phượng Thiên Chúa và để thánh hóa đoàn dân.

§3. Các phó tế thông phần vào việc cử hành việc thờ phượng Thiên Chúa, chiếu theo những quy định của luật.

§4. Các Kitô hữu khác cũng có phần vụ riêng của mình trong nhiệm vụ thánh hóa bằng cách tham dự hành động các việc cử hành phụng vụ, nhất là phụng vụ Thánh Thể, theo cách thế riêng của mình; đặc biệt các bậc cha mẹ thông phần vào nhiệm vụ này bằng cách sống đời hôn nhân theo tin thần Kitô giáo và liệu cho con cái có được một nền giáo dục Kitô giáo.

Điều 836

Vì việc phụng tự Kitô giáo, trong đó chức tư tế chung của các Kitô hữu được thi hành, là một việc phát xuất từ đức tin và dựa vào đức tin, nên các thừa tác viên phải quan tâm khơi dậy và làm sáng tỏ đức tin, nhất là bằng thừa tác vụ Lời Chúa, nhờ đó đức tin nảy sinh và được nuôi dưỡng.

Điều 837

§1. Các hoạt động phụng vụ không phải là những hoạt động riêng tư, nhưng là những cử hành của chính Giáo Hội là "bí tích hiệp nhất", nghĩa là đoàn dân thánh được tập hợp và điều hành dưới quyền Giám Mục, vì thế, các hoạt động phụng vụ liên quan đến toàn thể thân mình của Giáo Hội, biểu lộ và tác động đến thân mình ấy, nhưng các hoạt động ấy liên hệ với mỗi chi thể của thân thể ấy một cách khác nhau, tùy theo sự khác biệt của chức vị, của nhiệm vụ và của việc tham dự hữu hiệu.

§2. Vì các hoạt động phụng vụ tự bản chất bao gồm một cuộc cử hành có tính cách cộng đoàn, nên phải cử hành các hoạt động ấy với sự hiện diện và tham dự tích cực của các Kitô hữu, ở đâu có thể.

Điều 838

§1. Việc điều hành phụng vụ thánh chỉ lệ thuộc quyền bính Giáo Hội mà thôi; quyền bính này thực sự thuộc Tông Tòa và, chiếu theo quy tắc của luật, thuộc Giám Mục giáo phận.

§2. Việc tổ chức phụng vụ thánh của Giáo Hội toàn cầu, xuất bản các sách phụng vụ, phê chuẩn bản dịch các sách phụng vụ sang tiếng bản xứ và liệu sao cho những quy tắc về phụng vụ được trung thành tuân giữ khắp nơi đều thuộc về Tông Tòa.

§3. Việc soạn thảo các bản dịch sách phụng vụ sang tiếng bản xứ, với những thích nghi phù hợp trong giới hạn được các sách phụng vụ ấn định, và xuất bản các bản dịch ấy, sau khi có sự phê chuẩn của Tòa Thánh, thuộc về các Hội Đồng Giám Mục.

§4. Việc ban hành những quy tắc về phụng vụ mà mọi người buộc phải tuân giữ thuộc về Giám Mục giáo phận trong Giáo Hội được trao phó cho ngài và trong giới hạn thẩm quyền của ngài.

Điều 839

§1. Giáo Hội còn thực hiện nhiệm vụ thánh hóa của mình bằng những phương cách khác nữa: hoặc bằng những lời cầu nguyện nhờ đó Giáo Hội nài xin Thiên Chúa thánh hóa các Kitô hữu trong chân lý, hoặc bằng những việc sám hối và bác ái, là những việc giúp rất nhiều cho Vương Quốc của Đức Kitô được bén rễ và được củng cố trong các tâm hồn và đem lại ơn cứu độ cho thế giới.

§2. Đấng Bản Quyền địa phương phải liệu sao cho việc cầu nguyện cũng như các việc đạo đức và thánh thiêng của đoàn dân Kitô giáo được hoàn toàn phù hợp với những quy tắc của Giáo Hội.

PHẦN I
CÁC BÍ TÍCH

Điều 840

Các bí tích của Giao Ước mới, được Đức Kitô thiết lập và được ủy thác cho Giáo Hội, xét như là những hành động của Đức Kitô và của Giáo Hội, là những dấu chỉ và phương thế biểu lộ và củng cố đức tin, cử hành việc thờ phượng Thiên Chúa và thực hiện việc thánh hóa loài người, vì thế, các bí tích góp phần rất nhiều vào việc xây dựng, củng cố và biểu lộ sự hiệp thông của Giáo Hội; do đó, các thừa tác viên có chức thánh cũng như các Kitô hữu khác phải cử hành các bí tích với tất cả lòng kính cẩn và sự chăm chú cần thiết.

Điều 841

Vì các bí tích là như nhau đối với Giáo Hội toàn cầu và thuộc về kho tàng của Thiên Chúa, cho nên chỉ quyền bính tối cao của Giáo hội phê chuẩn hoặc xác định những điều cần thiết cho tính thành sự của các bí tích; và chính quyền bính tối cao này hoặc bất cứ một nhà chức trách có thẩm quyền nào khác, chiếu theo quy tắc của điếu 838 §§3 và 4, ấn định những điều cần thiết cho tính hợp thức của việc cử hành, ban và lãnh nhận các bí tích, cũng như những điều cần thiết cho nghi thức phải giữ trong lúc cử hành.

Điều 842

§1. Người nào không nhận bí tích Rửa Tội thì không thể lãnh nhận cách thành sự các bí tích khác.

§2. Các bí tích Rửa Tội, Thêm Sức và Thánh Thể liên kết chặt chẽ với nhau đến nỗi tất cả đều cần thiết cho việc khai tâm Kitô giáo được đầy đủ.

Điều 843

§1. Các thừa tác viên có chức thánh không thể từ chối ban các bí tích cho những người xin lãnh nhận các bí tích cách thích đáng, đã được chuẩn bị đầy đủ và không bị luật cấm lãnh nhận các bí tích.

§2. Các vị chủ chăn các linh hồn và các Kitô hữu khác, mỗi người tùy theo nhiệm vụ của mình trong Giáo Hội, có bổn phận phải liệu sao cho những người xin lãnh nhận các bí tích được chuẩn bị bằng việc loan báo Tin Mừng cách thích hợp và bằng việc huấn giáo tương xứng để lãnh nhận các bí tích ấy, và phải lưu ý đến những quy tắc do nhà chức trách có thẩm quyền ban hành.

 Điều 844

§1. Những thừa tác viên Công giáo chỉ ban bí tích cách hợp thức cho các Kitô hữu Công giáo mà thôi, cũng vậy, các Kitô hữu này chỉ lãnh nhận cách hợp thức các bí tích do những thừa tác viên Công giáo ban mà thôi, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của §§2, 3 và 4 của điều này và của điều 861 §2.

§2. Mỗi khi nhu cầu đòi hỏi hoặc hoặc khi có một lợi ích thiêng liêng thật sự, và với điều kiện là tránh được nguy cơ lầm lẫn hoặc tương đối tôn giáo, những Kitô hữu đang ở trong tình trạng bất khả thể lý hoặc luân lý không thể đến với một thừa tác viên Công giáo, thì được phép lãnh nhận các bí tích Sám Hối, Thánh Thể và Xức Dầu Bệnh Nhân từ những thừa tác viên không Công giáo, nếu các bí tích ấy được cách thành sự trong Giáo Hội của các vị đó.

§3. Các thừa tác viên Công giáo ban cách hợp thức các bí tích Sám Hối, Thánh Thể và Xức Dầu Bệnh Nhân cho những thành của các Giáo Hội Đông Phương không hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công giáo, nếu họ tự ý xin điều đó và nếu họ đã được chuẩn bị đầy đủ; điều này cũng có giá trị, trong những gì liên quan đến các bí tích, đối với những thành viên của các Giáo Hội khác đang ở trong cùng một tình trạng như Giáo Hội Đông Phương nói trên, theo sự nhận định của Tông Tòa.

§4. Trong trường hợp nguy tử hoặc nếu, theo sự nhận định của Giám Mục giáo phận hay của Hội đồng Giám Mục, có một nhu cầu quan trọng khác thúc bách, các thừa tác viên Công giáo có thể ban cách hợp thức các bí tích trên cho cả những Kitô hữu khác không hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công giáo, khi họ không thể đến được với một thừa tác viên của cộng đoàn mình và khi họ tự ý xin điều đó, miễn là họ biểu lộ đức tin Công giáo về các bí tích ấy, và miễn là họ đã được chuẩn bị đầy đủ.

§5. Trong những trường hợp được nói đến ở các §§2, 3 và 4, Giám Mục giáo phận hay Hội Đồng Giám Mục không được ban hành những quy tắc tổng quát, trừ khi đã tham khảo ý kiến của nhà chức trách có thẩm quyền ít là cấp địa phương của Giáo Hội và của cộng đoàn không Công giáo liên hệ.

Điều 845

§1. Vì các bí tích Rửa Tội, Thêm Sức và Truyền Chức Thánh ghi một ấn tích, nên không thể được nhận lại lần nữa.

§2. Sau khi đã điều tra cẩn thận, nếu vẫn còn một lý do hồ nghi về việc lãnh nhận thật sự hoặc về tính thành sự của các bí tích được nói đến ở §1, thì phải ban các bí tích ấy với điều kiện.

Điều 846

§1. Khi cử hành các bí tích, phải trung thành tuân theo các sách phụng vụ đã được nhà chức trách có thẩm quyền phê chuẩn, vì thế, không ai được tự ý thêm, bớt hoặc sửa đổi điều gì trong các sách ấy.

§2. Thừa tác viên phải cử hành các bí tích theo lễ điển riêng của mình.

Điều 847

§1. Khi ban những bí tích đòi buộc phải sử dụng dầu thánh, thừa tác viên phải sử dụng dầu ôliu hoặc dầu thực vật khác mới được Giám Mục thánh hiến hoặc làm phép, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 999, 20; thừa tác viên không được dùng dầu cũ, trừ trường hợp khẩn cấp.

§2. Cha sở phải xin các loại dầu thánh nơi Giám Mục của mình và phải bảo quản cẩn thận trong một chỗ xứng đáng.

Điều 848

 Ngoài những của dâng cúng do nhà chức trách có thẩm quyền ấn định, thừa tác viên không được xin gì để ban các bí tích, và luôn luôn phải liệu sao đừng để những người nghèo không được hưởng nhờ ơn các bí tích vì sự túng thiếu của mình.

ĐỀ MỤC 1
BÍ TÍCH RỬA TỘI

Điều 849

Bí tích Rửa Tội là cửa dẫn vào các bí tích, cần thiết ơn cứu rỗi và phải được lãnh nhận thật sự hoặc ít là trong ước muốn, nhờ bí tích này, con người được giải thoát khỏi tội lỗi, được tái sinh làm con Thiên Chúa, được nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô nhờ một ấn tích không thể xóa nhòa và được sáp nhập vào Giáo Hội, bí tích này chỉ được ban thành sự khi được rửa bằng nước thiên nhiên cùng với mô thể cần thiết.

CHƯƠNG 1
CỬ HÀNH BÍ TÍCH RỬA TỘI

Điều 850

Bí tích Rửa Tội được ban theo nghi thức được quy định trong các sách phụng vụ đã được phê chuẩn, trừ trường hợp có nhu cầu khẩn cấp, khi đó chỉ phải giữ những gì đòi buộc để bí tích được thành sự.

Điều 851

Việc cử hành bí tích Rửa Tội phải được chuẩn bị cách xứng hợp, bởi thế:

10 người thành niên muốn lãnh nhận bí tích Rửa Tội, phải được nhận vào khóa dự tòng và, tùy mức độ có thể, phải được hướng dẫn vào việc khai tâm về bí tích qua nhiều giai đoạn khác nhau, theo nghi thức khai tâm đã được Hội Đồng Giám Mục thích nghi và theo những quy tắc riêng do Hội Đồng Giám Mục ban hành;

20 cha mẹ nhi đồng sắp được Rửa Tội, cũng như những người sắp đảm nhận nhiệm vụ đỡ đầu, phải được giáo huấn cách xứng hợp về ý nghĩa của bí tích này và về những nghĩa vụ gắn liền với bí tích; khi tập hợp nhiều gia đình lại, và khi đi thăm họ, ở đâu có thể, cha sở, tự mình hoặc nhờ người khác, phải liệu sao để các bậc cha mẹ được chuẩn bị cách xứng hợp bằng những bài huấn dụ mục vụ, hơn nữa còn bằng việc cầu nguyện chung.

Điều 852

§1. Những gì đã được quy định trong những điều về bí tích Rửa Tội cho người thành niên cũng được áp dụng cho tất cả mọi người quá tuổi nhi đồng đã biết sử dụng trí khôn.

§2. Người nào không làm chủ được mình thì được đồng hóa với nhi đồng, cả trong vấn đề liên quan đến bí tích Rửa Tội.

Điều 853

Ngoài trường hợp cần thiết, nước dùng để ban bí tích Rửa Tội phải được làm phép theo những quy định của các sách phụng vụ.

Điều 854

Phải ban bí tích Rửa Tội hoặc bằng cách dìm xuống nước, hoặc bằng cách đổ nước, nhưng phải tuân giữ các quy định của Hội đồng Giám Mục.

Điều 855

Cha mẹ, những người đỡ đầu và cha sở phải liệu sao để đừng đặt tên xa lạ với ý nghĩa Kitô giáo.

Điều 856

Mặc dù có thể cử hành bí tích Rửa Tội vào bất cứ ngày nào cũng được, nhưng thông thường; khuyên nên cử hành bí tích này vào ngày Chúa Nhật hoặc nếu có thể được, vào đêm vọng Phục Sinh.

Điều 857

§1. Ngoài trường hợp cần thiết, nơi dành riêng để ban bí tích Rửa Tội là nhà thờ hoặc nhà nguyện.

§2. Theo luật chung, phải ban bí tích rửa Tội cho người thành niên tại nhà thờ riêng của giáo xứ của họ và cho nhi đồng tại nhà thờ giáo xứ của cha mẹ chúng, trừ khi có một lý do chính đáng khuyên làm cách khác.

Điều 858

§1. Tất cả mọi nhà thờ giáo xứ phải có giếng Rửa Tội, miễn là vẫn giữ nguyên quyền có giếng Rửa Tội mà các nhà thờ khác đã thủ đắc.

§2. Để tiện lợi cho tín hữu, sau khi đã tham khảo ý kiến của cha sở, Đấng Bản Quyền địa phương có thể cho phép hoặc truyền lệnh làm giếng Rửa Tội cả trong một nhà thờ hoặc một nhà nguyện khác nằm trong ranh giới của giáo xứ.

Điều 859

Nếu người sắp được Rửa Tội, vì ở xa hoặc vì những hoàn cảnh khác, không thể đến hoặc không thể được đưa đến nhà thờ giáo xứ hoặc nhà thờ hay nhà nguyện khác được nói đến ở điều 858 §2 mà không có sự bất tiện lớn, thì có thể và phải lãnh nhận bí tích Rửa Tội trong một nhà thờ hay một nhà nguyện khác gần hơn, hoặc tại một nơi khác xứng đáng.

Điều 860

§1. Ngoài trường hợp cần thiết, không được ban bí tích Rửa Tội tại tư gia, trừ khi Đấng Bản Quyền địa phương cho phép vì một lý do quan trọng.

§2. Nếu Giám Mục giáo phận không ấn định cách khác, không được cử hành bí tích Rửa Tội tại các bệnh viện, trừ trường hợp cần thiết hay vì một lý do mục vụ khác đòi buộc.

CHƯƠNG 2
THỪA TÁC VIÊN BÍ TÍCH RỬA TỘI

Điều 861

§1. Thừa tác viên thông thường của bí tích Rửa Tội là Giám Mục, linh mục và phó tế, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 530, 10.

§2. Nếu thừa tác viên thông thường vắng mặt hay bị ngăn trở, thì một giáo lý viên hay một người khác được Đấng Bản Quyền địa phương ủy thác làm nhiệm vụ này, hơn nữa trong trường hợp cần thiết, bất cứ người nào với ý hướng cần có, đều ban bí tích Rửa Tội cách hợp thức; các vị chủ chăn các linh hồn, nhất là các cha sở, phải liệu sao để dạy cho các Kitô hữu biết Rửa Tội đúng cách.

Điều 862

Trừ trường hợp cần thiết, nếu không được phép buộc phải có, không ai có thể ban bí tích Rửa Tội trong một địa hạt khác, dù là ban cho những người thuộc quyền mình.

Điều 863

Việc ban bí tích Rửa Tội cho người thành niên ít là cho những người đã được trọn mười bốn tuổi, nên được trình lên Giám Mục giáo phận, để chính ngài đích thân ban bí tích này, nếu ngài xét thấy điều đó thuận lợi.

CHƯƠNG 3
NHỮNG NGƯỜI LÃNH NHẬN BÍ TÍCH RỬA TỘI

Điều 864

Tất cả và chỉ những người chưa được Rửa Tội mới có khả năng lãnh nhận bí tích Rửa Tội.

Điều 865

§1. Để có thể được Rửa Tội, người thành niên phải bày tỏ ý muốn lãnh nhận bí tích Rửa Tội, phải được dạy dỗ đủ về những chân lý đức tin và những nghĩa vụ Kitô giáo và phải được thử luyện sống đời Kitô hữu qua thời gian dự tòng; họ cũng được khuyên nhủ ăn năn tội lỗi của mình.

§2. Trong trường hợp nguy tử, người thành niên có thể được Rửa Tội, nếu sau khi đã có một vài nhận thức về những chân lý chính yếu của đức tin, họ tỏ ý muốn lãnh nhận bí tích Rửa Tội bằng bất cứ cách nào, và hứa sẽ tuân giữ các giới răn của Kitô giáo.

Điều 866

Trừ khi có một ngăn trở nghiêm trọng, người thành niên nào được Rửa Tội thì cũng lãnh nhận bí tích Thêm Sức ngay sau bí tích Rửa Tội, tham dự Thánh Lễ, cũng như rước lễ.

Điều 867

§1. Các bậc cha mẹ phải lo cho con cái mình được Rửa Tội trong vòng những tuần lễ đầu tiên; vào dịp việc sớm sau khi sinh và ngay cả trước khi sinh, họ phải đến gặp cha sở để xin ngài ban bí tích cho con mình và để được chuẩn bị kỹ luỡng về bí tích ấy.

§2. Nếu nhi đồng đang lâm cơn nguy tử, thì được Rửa Tội ngay không chút trì hoãn.

Điều 868

§1. Để Rửa Tội một nhi đồng cách hợp thức, thì phải;

10 có sự chấp thuận của cha mẹ, hay ít của một trong hai người, hoặc của người thay quyền họ cách hợp pháp.

20 có một niềm hy vọng chắc chắn là em sẽ được giáo dục trong đạo Công giáo; nếu hoàn toàn thiếu niềm hy vọng này, thì phải hoãn ban bí tích Rửa Tội, chiếu theo những quy định của luật địa phương, sau khi đã thông báo cho cha mẹ biết lý do.

§2. Trong cơn nguy tử, nhi đồng của cha mẹ Công giáo đều được Rửa Tội cách hợp thức, dù trái với ý muốn của cha mẹ.

Điều 869

§1. Nếu hồ nghi một người đã được Rửa Tội hay chưa, hoặc bí tích Rửa Tội được ban cho người đó có thành sự hay không, và nếu vẫn còn hồ nghi sau khi đã điều tra cặn kẽ, thì phải ban bí tích Rửa Tội cho họ với điều kiện.

§2. Những người đã được Rửa Tội trong một cộng đoàn Giáo Hội không Công giáo, thì không được RửaTội với điều kiện, trừ khi có một lý do nghiêm chỉnh để hồ nghi về tính thành sự của bí tích Rửa Tội, sau khi đã điều tra về chất thể và mô thể đã được dùng khi ban bí tích, cũng như về ý muốn của người thành niên được Rửa Tội và của thừa tác viên ban bí tích Rửa Tội.

§3. Nếu trong những trường hợp được nói đến ở §§1 và 2 vẫn còn hồ nghi về việc ban hoặc về tính thành sự của bí tích Rửa Tội, thì chỉ được ban bí tích Rửa, sau khi đã trình bày đạo lý về bí tích Rửa Tội cho người lãnh nhận bí tích Rửa Tội, và sau khi đã cho chính đương sự, nếu là người thành niên, hoặc cho cha mẹ của đương sự nếu là nhi đồng, biết những lý do hồ nghi về tính thành sự của bí tích đã được cử hành trước đây.

Điều 870

Phải ban bí tích Rửa Tội cho nhi đồng bị bỏ rơi hoặc vô thừa nhận, trừ khi việc điều tra cẩn thận cho biết em đã được Rửa Tội rồi.

Điều 871

Trong mức độ có thể, phải Rửa Tội cho những thai nhi bị sẩy, nếu chúng còn sống.

CHƯƠNG 4
NGƯỜI ĐỠ ĐẦU

Điều 872

Trong mức độ có thể, người sắp lãnh nhận bí tích Rửa Tội phải có một người đỡ đầu. Người này giúp người thành niên sắp lãnh nhận bí tích Rửa Tội trong việc khai tâm Kitô giáo; còn đối với nhi đồng sắp được Rửa Tội, thì người đỡ đầu cùng với cha mẹ đưa em đến chịu phép Rửa Tội và liệu sao cho em sau này sống một đời Kitô giáo xứng hợp với bí tích Rửa Tội và trung thành chu toàn những nghĩa vụ gắn liền với bí tích.

Điều 873

Phải nhận một cha đỡ đầu hoặc một mẹ đỡ đầu mà thôi, hoặc là cả cha và mẹ đỡ đầu.

Điều 874

§1. Để được chấp nhận giữ nhiệm vụ đỡ đầu, người đỡ đầu phải:

10 do chính người sắp được Rửa Tội chọn hay do cha mẹ hay những người thay quyền cha mẹ chọn, hoặc thiếu những người ấy, thì do cha sở hay do thừa tác viên chọn, và phải có khả năng và ý muốn đảm nhận nhiệm vụ này;

20 đủ mười sáu tuổi trọn, trừ khi Giám Mục giáo phận đã ấn định một mức tuổi khác, hoặc trừ khi cha sở hay hừa tác viên xét thấy phải chấp nhận, vì một lý do ngoại lệ;

30 là người Công giáo đã lãnh nhận bí tích Thêm Sức, và bí tích Thánh Thể, và phải có đời sống xứng hợp với đời sống đức tin và nhiệm vụ phải đảm nhận;

40 không mắc một hình phạt của giáo luật đã được tuyên kết hay tuyên bố cách hợp pháp;

50 không là cha hoặc mẹ của người được Rửa Tội.

§2. Một người đã được Rửa Tội thuộc một cộng đoàn của Giáo Hội không Công giáo chỉ được chấp nhận như là nhân chứng của bí tích Rửa Tội cùng với một người đỡ đầu Công giáo.

CHƯƠNG V
CHỨNG MINH VÀ GHI SỔ BAN BÍ TÍCH RỬA TỘI

Điều 875

Người nào ban bí tích Rửa Tội, thì phải liệu sao cho có được ít là một người làm chứng, để có thể chứng minh việc ban bí tích Rửa Tội, nếu không có người đỡ đầu.

Điều 876

Lời tuyên bố của một nhân chứng đáng tin cậy hay lời thề của chính người đã được Rửa Tội, nếu họ đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội ở tuổi thành niên, đủ để làm bằng chứng cho việc ban bí tích Rửa Tội, nếu điều đó không gây thiệt hại cho ai.

Điều 877

§1. Cha sở tại nơi cử hành bí tích Rửa Tội phải cẩn thận ghi ngay vào sổ Rửa Tội tên của những người đã được Rửa Tội, của thừa tác viên, của cha mẹ, của người đỡ đầu và của những nhân chứng, nếu có, ngày và nơi ban bí tích Rửa Tội, cũng như ngày và nơi sinh của họ.

§2. Trong trường hợp một đứa con của người mẹ không có hôn phối, thì phải ghi tên người mẹ, nếu mẫu tính được biết cách công khai, hoặc nếu chính người mẹ tự ý yêu cầu điều đó bằng văn bản hay trước mặt hai nhân chứng, cũng phải ghi tên người cha, nếu phụ tính được chứng minh qua một tài liệu chính thức hay qua lời tuyên bố của đương sự trước mặt cha sở và hai nhân chứng; trong những trường hợp khác, chỉ phải ghi tên người được Rửa Tội mà thôi, chứ không ghi tên người cha hoặc tên cha mẹ.

§3. Nếu là con nuôi, thì phải ghi tên các người nuôi, ít là khi điều đó được thể hiện trong sổ hộ tịch địa phương, và tên cha mẹ ruột, chiếu theo quy tắc của §§1 và 2, và phải lưu ý đến những quy định của Hội Đồng Giám Mục.

Điều 878

Nếu cha sở không cử hành bí tích tích Rửa Tội và cũng không có mặt, thì thừa tác viên của bí tích Rửa Tội, dù là ai đi nữa, phải thông báo cho cha sở của giáo xứ nơi mà bí tích Rửa Tội đã được cử hành, để ngài ghi vào sổ chiếu theo quy tắc của điều 877 §1.

ĐỀ MỤC 2
BÍ TÍCH THÊM SỨC

Điều 879

Nhờ bí tích Thêm Sức in một ấn tích, những người đã được Rửa Tội đang tiếp tục con đường khai tâm Kitô giáo được dồi dào ơn Chúa Thánh Thần và được liên kết chặt chẽ hơn với Giáo Hội; bí tích này tăng sức cho họ và buộc họ cách nghiêm ngặt hơn phải trở nên nhân chứng của Đức Kitô bằng lời nói và bằng việc làm, cũng như phải truyền bá và bênh vực đức tin.

CHƯƠNG 1
CỬ HÀNH BÍ TÍCH THÊM SỨC

Điều 880

§1. Bí tích Thêm Sức được ban bằng việc xức dầu thánh hiến trên trán, được thực hiện bằng việc đặt tay và đọc những lời quy định trong các sách phụng vụ đã được chuẩn nhận.

§2. Dầu thánh hiến dùng trong bí tích Thêm Sức phải được Giám Mục thánh hiến, kể cả khi bí tích này được linh mục ban.

Điều 881

Nên cử hành bí tích Thêm Sức trong một nhà thờ và trong Thánh Lễ, tuy nhiên, vì một lý do chính đáng và hợp lý, bí tích Thêm Sức có thể cử hành ngoài Thánh Lễ và tại bất cứ nơi nào xứng đáng.

CHƯƠNG 2
THỪA TÁC VIÊN BÍ TÍCH THÊM SỨC

Điều 882

Thừa tác viên thông thường của bí tích Thêm Sức là Giám Mục; linh mục cũng ban bí tích này thành sự, nếu có năng quyền đó chiếu theo luật Phổ quát, hoặc do nhà chức trách có thẩm quyền ban riêng cho.

Điều 883

Những vị sau đây đương nhiên có năng quyền ban bí tích Thêm Sức:

10 những vị được luật đồng hóa với Giám Mục giáo phận, trong giới hạn thẩm quyền của mình;

20 đối với người liên hệ, thì linh mục nào chiếu theo chức vụ hoặc được Giám Mục giáo phận ủy quyền Rửa Tội cho một người đã quá tuổi nhi đồng hoặc tiếp nhận một người đã được Rửa Tội và hiệp thông trọng vẹn với Giáo Hội Công giáo;

 30 đối với những người trong cơn nguy tử, thì cha sở và thậm chí bất cứ linh mục nào.

Điều 884

§1. Giám Mục giáo phận phải đích thân ban bí tích Thêm Sức hoặc phải liệu sao để có một Giám Mục khác ban bí tích này; nhưng nếu cần, ngài có thể ban năng quyền cử hành bí tích Thêm Sức cho một hay nhiều linh mục nhất định.

§2. Vì một lý do nghiêm trọng, Giám Mục và cả linh mục nào có năng quyền ban bí tích Thêm Sức chiếu theo luật hoặc do nhà chức trách có thẩm quyền ban riêng cho, đều có thể mời các linh mục cùng ban bí tích với mình trong từng trường hợp.

Điều 885

§1. Giám Mục giáo phận buộc phải liệu sao để những người thuộc quyền mình được lãnh nhận bí tích Thêm Sức, khi họ xin điều đó cách thích đáng và hợp lý.

§2. Linh mục nào có năng quyền ban bí tích Thêm Sức, thì phải sử dụng năng quyền này đối với những người mà vì ích lợi của họ năng quyền đã được ban cho ngài.

Điều 886

§1. Trong giáo phận mình, Giám Mục ban bí tích Thêm Sức cách hợp thức cho cả những tín hữu không thuộc quyền ngài, trừ khi Đấng Bản Quyền của họ đã minh nhiên ngăn cấm.

§2. Để ban bí tích Thêm Sức trong giáo phận khác cách hợp thức, một Giám Mục cần có phép, ít là được suy đoán cách hợp lý, của Giám Mục giáo phận, trừ khi đó là những người thuộc quyền mình.

Điều 887

Trong địa hạt đã được chỉ thị cho mình, linh mục nào có năng quyền ban bí tích Thêm Sức cũng có thể ban bí tích này cách hợp thức cho những người ngoại cư, trừ khi Đấng Bản Quyền của họ đã minh nhiên ngăn cấm điều đó, nhưng ngài không thể ban ban bí tích Thêm Sức cách thành sự cho bất cứ ai trong một địa hạt khác, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 833, 30.

Điều 888

Trong địa hạt mà các thừa tác viên có năng quyền ban bí tích Thêm Sức, thì ngài cũng có thể ban bí tích ấy trong những nơi miễn trừ.

CHƯƠNG 3
NHỮNG NGƯỜI LÃNH NHẬN BÍ TÍCH THÊM SỨC

Điều 889

§1. Mọi người và chỉ những người đã Rửa Tội mà chưa lãnh nhận bí tích Thêm Sức mới có khả năng lãnh nhận bí tích Thêm Sức.

§2. Ngoài trường hợp nguy tử, để lãnh nhận bí tích Thêm Sức cách hợp thức, nếu đương sự đã đến tưổi khôn, thì buộc phải học hỏi đúng mức, phải được chuẩn bị đầy đủ và phải có khả năng lặp lại các lời hứa khi chịu phép Rửa Tội.

Điều 890

Các tín hữu buộc phải lãnh nhận bí tích này vào thời gian thích hợp; các bậc cha mẹ, các vị chủ chăn, nhất là cha sở, phải liệu sao cho các tín hữu được học hỏi đúng mức để lãnh nhận bí tích này, và được lãnh nhận vào thời gian thích hợp.

Điều 981

Phải ban bí tích Thêm Sức cho các tín hữu vào khoảng tuổi khôn, trừ khi Hội Đồng Giám Mục ấn định một mức tuổi khác, trừ trường hợp nguy tử, hoặc trừ khi có một lý do nghiêm trọng khuyên làm cách khác, theo sự phán đoán của thừa tác viên.

CHƯƠMG 4
NGƯỜI ĐỠ ĐẦU

Điều 892

Trong mức độ có thể, người lãnh nhận bí tích Thêm Sức phải có một người đỡ đầu hiện diện; người này liệu sao cho người đã lãnh nhận bí tích Thêm Sức biết cư xử như nhân chứng đích thực của Chúa Kitô và trung thành chu toàn các nghĩa vụ gắn liền với bí tích ấy.

Điều 893

§1. Để thi hành nhiệm vụ đỡ đầu, phải hội đủ các điều kiện được nói đến ở điều 874.

§2. Nên chọn người đỡ đầu là người đã đảm nhận nhiệm vụ ấy trong bí tích Rửa Tội.

CHƯƠNG 5
CHỨNG MINH
VÀ GHI SỔ BAN BÍ TÍCH THÊM SỨC

Điều 894

Để chứng minh việc ban bí tích Thêm Sức, phải tuân giữ những quy định của điều 876.

Điều 895

Phải ghi vào sổ Thêm Sức của tòa giám mục tên của những người đã lãnh nhận bí tích Thêm Sức, của thừa tác viên, của cha mẹ và của người đỡ đầu, nơi và ngày ban bí tích Thêm Sức, hoặc ở đâu mà Hội Đồng Giám Mục hay Giám Mục giáo phận quy định thì phải ghi vào trong sổ được lưu giữ trong văn khố của giáo xứ; cha sở phải thông báo về việc ban bí tích Thêm Sức cho cha sở tại nơi ban bí tích Rửa Tội để ngài ghi việc ban bí tích Thêm Sức vào sổ Rửa Tội, chiếu theo quy tắc của điều 535 §2.

Điều 896

Nếu cha sở địa phương vắng mặt, thừa tác viên phải tự mình hoặc nhờ người khác thông báo sớm hết sức cho ngài về việc ban bí tích Thêm Sức.

ĐỀ MỤC 3
BÍ TÍCH THÁNH THỂ

Điều 897

Bí tích cao trọng nhất là bí tích Thánh Thể, trong đó chính Chúa Kitô hiện diện, được dâng hiến và trở nên lương thực, và nhờ đó mà Giáo Hội tiếp tục sống và tăng trưởng. Hiến tế Thánh Thể tưởng niệm sự chết và sự sống lại của Chúa, là nơi Hiến Tế Thập Giá được tiếp diễn mãi đến muôn đời, là chóp đỉnh và nguồn mạch của tất cả việc thờ phượng và đời sống Kitô giáo; nhờ Hiến Tế Thánh Thể, sự hiệp nhất của dân Chúa được biểu lộ và được thực hiện, và việc xây dựng Thân Mình Đức Kitô được hoàn tất. Thật vậy, tất cả các bí tích khác và tất cả các hoạt động tông đồ của Giáo Hội đều liên kết mật thiết với bí tích Thánh Thể và quy hướng về bí tích Thánh Thể.

Điều 898

Các Kitô hữu phải hết sức tôn thờ bí tích Thánh Thể bằng cách tham dự tích cực vào việc cử hành Hiến Tế cực trọng, siêng năng sốt sắng lãnh nhận bí tích này và hết lòng tôn sùng Thánh Thể; các vị chủ chăn các linh hồn phải chuyên cần dạy cho các tín hữu biết nghĩa vụ ấy khi giải thích đạo lý về bí tích này.

CHƯƠNG 1
CỬ HÀNH BÍ TÍCH THÁNH THỂ

Điều 899

§1. Việc cử hành bí tích Thánh Thể là hành động của chính Đức Kitô và Giáo Hội, trong đó Chúa Kitô, qua thừa tác vụ của tư tế, hiện diện cách bản thể dưới hình bánh và rượu, dâng mình cho Thiên Chúa Cha và tự hiến mình làm của ăn thiêng liêng cho các tín hữu được kết hợp với lễ tế của ngài.

§2. Trong bữa tiệc Thánh Thể, đoàn dân Chúa được triệu tập thành cộng đoàn dưới sự chủ tọa của Giám Mục hay của linh mục dưới quyền ngài, các vị này hành động với tư cách là chính Đức Kitô, và tất cả mọi tín hữu hiện diện ở đó, dù là giáo sĩ hay giáo dân, đều góp phần tích cực tham dự, mỗi người theo thể thức riêng của mình, tùy theo sự khác biệt về cấp bậc và chức năng phụng vụ.

§3. Việc cử hành bí tích Thánh Thể phải được tổ chức thế nào để cho mọi người tham dự đều nhận được ở đó những kết quả dồi dào, như Chúa Kitô mong muốn khi thiết lập Hiến Tế Thánh Thể.

TIẾT 1
THỪA TÁC VIÊN BÍ TÍCH THÁNH THỂ

Điều 900

§1. Chỉ có tư tế đã được truyền chức thành sự là thừa tác viên có thể cử hành bí tích Thánh Thể với tư cách là chính Đức Kitô.

§2. Tư tế nào không bị ngăn trở do giáo luật, thì cử hành bí tích Thánh Thể cách hợp thức, nhưng vẫn giữ những quy định của các điều khoản sau đây.

Điều 901

Tư tế có trọn quyền dâng ý lễ cho những người còn sống cũng như cho những người đã qua đời.

Điều 902

Trừ khi lợi ích của các Kitô hữu đòi buộc hay khuyên làm cách khác, các tư tế có thể đồng tế Thánh Lễ, tuy mỗi vị vẫn có quyền tự do dâng lễ riêng, nhưng không được cùng một lúc với Thánh Lễ đồng tế trong cùng một nhà thờ hay nhà nguyện.

Điều 903

Một tư tế phải được nhận cho cử hành Thánh Lễ mặc dù cha quản nhiệm nhà thờ không quen biết, miễn là ngài xuất trình thư giới thiệu do Đấng Bản Quyền hay của Bề Trên mình cấp chưa quá một năm, hoặc miễn là cha quản nhiệm có thể nhận định cách khôn ngoan là không có gì ngăn trở tư tế ấy cử hành Thánh Lễ.

Điều 904

Các tư tế phải năng cử hành Thánh Lễ và phải nhớ rằng công trình cứu chuộc được liên tục thực hiện trong mầu nhiệm Hiến Tế Thánh Thể; hơn nữa, các ngài được khẩn khoản kêu mời cử hành Thánh Lễ hằng ngày, ngay cả khi không có tín hữu tham dự, việc cử hành này vẫn là hành động của đức Kitô và Giáo Hội; khi thực hiện việc cử hành như vậy, các tư tế chu toàn nhiệm vụ chính yếu của mình.

Điều 905

§1. Tư tế chỉ được phép cử hành mỗi ngày một Thánh Lễ, trừ những trường hợp chiếu theo quy tắc của luật được phép cử hành hoặc đồng tế Thánh Lễ nhiều lần trong một ngày.

§2. Nếu thiếu tư tế, Đấng Bản Quyền địa phương có thể cho phép các tư tế, khi có một lý do chính đáng, được cử hành hai Thánh Lễ mỗi ngày, hơn nữa, khi có nhu cầu mục vụ đòi hỏi, được cử hành ba Thánh Lễ trong các ngày Chúa Nhật và các ngày lễ buộc.

Điều 906

Trừ khi có một lý do chính đáng và hợp lý, tư tế không được cử hành Hiến Tế Thánh Thể khi không có ít là một tín hữu tham dự.

Điều 907

Trong khi cử hành bí tích Thánh Thể, các phó tế và giáo dân không được phép đọc các lời nguyện, nhất là kinh nguyện Thánh Thể, hoặc làm các hành vi riêng của tư tế chủ lễ.

Điều 908

Cấm các tư tế Công giáo đồng tế Thánh Lễ với các tư tế hay thừa tác viên thuộc các Giáo Hội hay các cộng đoàn Giáo Hội không hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công giáo.

Điều 909

Tư tế đừng bỏ qua việc dọn mình cách xứng hợp bằng lời cầu nguyện để cử hành Hiến Tế Thánh Thể và đừng quên tạ ơn Thiên Chúa sau khi cử hành.

Điều 910

§1. Những thừa tác viên thông thường cho rước lễ là Giám Mục, linh mục và phó tế.

§2. Những thừa tác viên ngoại thường cho rước lễ là người đã nhận thừa tác vụ giúp lễ và bất cứ Kitô hữu nào đã được ủy quyền chiếu theo quy tắc của điều 230 §3.

Điều 911

§1. Cha sở và các cha phó, các cha tuyên úy có bổn phận và có quyền đưa Mình Thánh Chúa như Của Ăn Đàng cho bệnh nhân, cũng như Bề Trên cộng đoàn các hội dòng giáo sĩ hoặc các tu đoàn tông đồ có quyền và có bổn phận ấy đối với mọi người ở trong nhà mình.

§2. Trong trường hợp cần thiết hoặc có phép ít là được suy đoán của cha sở, của cha tuyên úy hay của Bề Trên, bất cứ tư tế hay thừa tác viên nào có quyền cho rước lễ, đều phải làm việc ấy, nhưng sau đó phải báo lại cho vị đó biết.

TIẾT 2
THAM DỰ BÍ TÍCH THÁNH THỂ

Điều 912

Tất cả mọi người đã được Rửa Tội và không bị luật ngăn cấm, đều có thể và phải được rước lễ.

Điều 913

§1. Để có thể được rước lễ, trẻ em buộc phải hiểu biết đủ và phải được chuẩn bị kỹ lưỡng đến độ hiểu được mầu nhiệm Đức Kitô theo khả năng của mình và có thể rước Mình Thánh Chúa với đức tin và lòng sốt sắng.

§2. Nhưng có thể cho trẻ em trong cơn nguy tử rước lễ, nếu chúng có thể phân biệt Mình Thánh Chúa với của ăn thường và có thể rước lễ với lòng cung kính.

Điều 914

Trước tiên là cha mẹ và những người thay quyền cha mẹ, kể cả cha sở, có bổn phận liệu sao cho nhi đồng đến tuổi khôn được chuẩn bị cách thích đáng và được nuôi dưỡng bằng lương thực thánh này càng sớm càng tốt, sau khi đã lãnh nhận bí tích Sám Hối. Cha sở cũng liệu sao để nhi đồng chưa đến tuổi khôn, hoặc nhi đồng không được chuẩn bị đủ theo sự nhận xét của ngài không được rước lễ.

Điều 915

Những người bị vạ tuyệt thông và những người bị cấm chế sau khi hình phạt đã được tuyên kết hay tuyên bố, cũng như những người ngoan cố sống trong tội trọng tỏ tường, không được rước lễ.

Điều 916

Người nào ý thức mình đang mắc tội trọng thì không được cử hành Thánh Lễ và cũng không được rước Mình Thánh Chúa, nếu không nhận bí tích Sám Hối trước, trừ khi có một lý do nghiêm trọng và không có dịp để xưng tội, trong trường hợp này, người ấy phải nhớ rằng mình phải ăn năn tội cách trọn, trong đó bao gồm việc quyết tâm xưng tội sớm hết sức.

Điều 917

Người nào đã rước lễ rồi, thì có thể rước lễ lần nữa trong cùng một ngày, nhưng chỉ trong buổi cử hành Thánh Thể mà họ tham dự, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 921 §2.

Điều 918

Hết sức khuyến khích các tín hữu rước lễ trong chính buổi cử hành Thánh Thể, nhưng đối với những người xin rước lễ vì một lý do chính đáng, thì phải cho họ rước lễ ngoài Thánh Lễ, nhưng vẫn phải giữ những nghi thức phụng vụ.

Điều 919

§1. Người nào muốn rước Thánh Thể, thì phải kiêng mọi thức ăn, thức uống, chỉ trừ nước lã và thuốc chữa bệnh, ít là khoảng một giờ trước khi rước lễ.

§2. Tư tế cử hành Thánh Lễ hai hoặc ba lần trong cùng một ngày có thể ăn uống chút ít trước khi cử hành Thánh Lễ lần thứ hai hay lần thứ ba, dẫu không cách quảng một giờ.

§3. Những người cao niên và bệnh tật, cũng như những người chăm sóc họ, có thể rước Thánh Thể, dù đã ăn uống chút ít trước đó không tới một giờ.

Điều 920

§1. Sau khi đã rước lễ lần đầu, tất cả mọi tín hữu buộc phải rước lễ mỗi năm ít là một lần.

§2. Phải chu toàn mệnh lệnh này trong mùa Phục Sinh, trừ khi phải chu toàn vào một thời gian khác trong năm vì một lý do chính đáng.

Điều 921

§1. Các Kitô hữu lâm cơn nguy tử vì bất cứ lý do nào, phải được rước lễ như Của Ăn Đàng.

§2. Hết sức khuyến khích những người lâm cơn nguy tử rước lễ lần nữa, mặc dù họ đã rước lễ trong ngày ấy rồi.

§3. Nên rước lễ nhiều lần vào những ngày khác nhau, bao lâu cơn nguy tử còn kéo dài.

Điều 922

Không được trì hoãn quá lâu việc các bệnh nhận lãnh nhận Của Ăn Đàng; những người có trách nhiệm coi sóc các linh hồn phải ân cần liệu sao cho bệnh nhân được lãnh nhận Của Ăn Đàng khi họ còn đủ tỉnh táo.

Điều 923

Các Kitô hữu có thể tham dự Hiến Tế Thánh Thể và rước lễ trong bất cứ nghi lễ Công giáo nào, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 844.

TIẾT 3
NGHI LỄ VÀ NGHI THỨC
CỬ HÀNH BÍ TÍCH THÁNH THỂ

Điều 924

§1. Hiến tế Thánh Thể phải được tiến dâng với bánh và rượu nho có pha một chút nước lã.

§2. Bánh phải được làm bằng bột lúa mì nguyên chất và mới làm để tránh mọi nguy cơ hư hại.

§3. Rượu nho phải là rượu tự nhiên từ trái nho và không bị hư.

Điều 925

Phải cho rước lễ với một hình bánh mà thôi hoặc chiếu theo quy tắc của luật phụng vụ dưới cả hai hình; nhưng trong trường hợp cần thiết, cũng có thể cho rước lễ dưới một hình rượu mà thôi.

Điều 926

Trong việc cử hành Thánh Thể, theo truyền thống cổ kính trong Giáo Hội Latinh, tư tế phải dùng bánh không men, dù cử hành ở đâu.

Điều 927

Tuyệt đối cấm truyền phép một chất thể mà không có chất thể kia, hoặc truyền phép cả hai chất ngoài lúc cử hành Thánh Thể, ngay cả trong trường hợp khẩn cấp và hết sức cần thiết.

Điều 928

Phải cử hành Thánh Thể bằng tiếng Latinh hoặc bằng một ngôn ngữ khác, miễn là bản văn phụng vụ đã được chuẩn nhận cách hợp thức.

Điều 929

Để cử hành và ban Thánh Thể, các tư tế và các phó tế phải mặc lễ phục thánh theo quy định của luật chữ đỏ.

Điều 930

§1. Tư tế đau yếu hoặc cao niên có thể ngồi cử hành Hiến Tế Thánh Thể, nếu không thể đứng được, nhưng luôn luôn phải giữ các luật phụng vụ, tuy nhiên không được cử hành trước mặt dân chúng, trừ khi Đấng Bản Quyền địa phương cho phép.

§2. Tư tế bị mù lòa hoặc bị một tàn tật khác có thể cử hành Hiến Tế Thánh Thể cách hợp thức, với bất cứ bản văn Thánh Lễ nào đã được chuẩn nhận và với sự hiện diện, nếu cần, của một tư tế hay một phó tế khác, hoặc cả của một giáo dân đã được chỉ dẫn cách thích hợp để giúp ngài.

TIẾT 4
THỜI GIAN VÀ NƠI CỬ HÀNH BÍ TÍCH THÁNH THỂ

Điều 931

Có thể cử hành bí tích Thánh Thể và cho rước lễ mọi ngày và vào bất cứ giờ nào, trừ khi điều đó bị cấm chiếu theo quy tắc của luật phụng vụ.

Điều 932

§1. Phải cử hành Thánh Thể trong một nơi thánh, trừ khi nhu cầu đòi hỏi cách khác trong một trường hợp đặc biệt; trong trường hợp này, phải cử hành ở một chỗ tôn nghiêm.

§2. Phải cử hành Thánh Thể trên một bàn thờ đã được cung hiến hoặc đã được làm phép; ngoài nơi thánh, có thể dùng một bàn xứng đáng, nhưng luôn luôn phải có khăn trải bàn thờ và khăn thánh.

Điều 933

Khi có một lý do chính đáng và khi có phép minh nhiên của Đấng Bản Quyền địa phương, tư tế được phép cử hành Thánh Thể trong đền thờ của một Giáo Hội hoặc của cộng đoàn Giáo Hội không hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công giáo, miễn là tránh mọi nguy cơ gây gương xấu.

CHƯƠNG 2
LƯU GIỮ VÀ TÔN THỜ THÁNH THỂ

Điều 934

§1. Thánh Thể:

10 phải được lưu giữ trong nhà thờ chính tòa hoặc trong một nhà thờ tương đương, trong bất cứ nhà thờ giáo xứ nào và một trong nhà thờ hay nhà nguyện gắn liền với nhà của một hội dòng hoặc của một tu đoàn tông đồ;

20 có thể được lưu giữ tại nhà nguyện tư cửa Giám Mục và, với phép của Đấng Bản Quyền địa phương, tại các nhà thờ, nhà nguyện và nhà nguyện khác.

§2. Trong những nơi thánh có lưu giữ Thánh Thể, luôn luôn phải có người coi sóc, và trong mức độ có thể, tư tế phải cử hành Thánh Lễ ở đấy ít nhất hai lần trong tháng.

Điều 935

Không ai được phép lưu giữ Mình Thánh Chúa tại nhà mình hoặc đem theo Mình Thánh Chúa khi đi đường, trừ khi có một nhu cầu mục vụ khẩn cấp và với điều kiện là phải giữ quy định của Giám Mục giáo phận.

Điều 936

Trong nhà của một hội dòng hay trong một thiện xá nào khác, Thánh Thể chỉ được lưu giữ trong nhà thờ hoặc nhà nguyện chính thuộc nhà ấy mà thôi; tuy nhiên vì một lý do chính đáng, Đấng Bản Quyền có thể cho phép lưu giữ Thánh Thể cả trong một nhà nguyện khác thuộc nhà ấy.

Điều 937

Trừ khi có một lý do nghiêm trọng ngăn cản, nhà thờ nào có lưu giữ Thánh Thể, thì phải mở cửa cho tín hữu, ít là vài giờ trong ngày, để họ có thể cầu nguyện trước Mình Thánh.

Điều 938

§1. Thường thường chỉ được lưu giữ Thánh Thể trong một nhà Tạm của nhà thờ hay nhà nguyện.

§2. Nhà Tạm có lưu giữ Thánh Thể phải được đặt tại một vị trí nổi bật và dễ thấy trong nhà thờ hay nhà nguyện, được trang hoàng mỹ thuật và thích hợp cho việc cầu nguyện.

§3. Nhà Tạm có lưu giữ Thánh Thể thường ngày phải bất di dịch, phải được làm bằng chất liệu chắc chắn không trong suốt và phải khóa kín để tránh tối đa mọi nguy cơ phạm thánh.

§4. Vì một lý do nghiêm trọng, Thánh Thể có thể được lưu giữ tại một nơi khác an toàn và tôn nghiêm hơn, nhất là ban đêm.

§5. Người nào coi sóc nhà thờ hay nhà nguyện, phải liệu sao để chìa khóa nhà Tạm có lưu giữ Thánh Thể được gìn giữ hết sức cẩn thận.

Điều 939

Bánh lễ đã được truyền phép phải được lưu giữ trong một bình thánh hay trong một bình với số lượng vừa đủ cho nhu cầu của tín hữu, và phải được thay mới thường xuyên, sau khi đã rước hết những bánh thánh cũ cách thích hợp.

Điều 940

Trước nhà Tạm có lưu giữ Thánh Thể, phải thắp sáng một ngọn đèn đặc biệt, để biểu thị và tôn kính sự hiện diện của Đức Kitô.

Điều 941

§1. Trong các nhà thờ hoặc nhà nguyện được phép lưu giữ Thánh Thể, có thể đặt Mình Thánh để chầu, hoặc trong bình thánh hoặc trong Mặt Nhật, nhưng phải giữ những quy tắc đã được quy định trong các sách phụng vụ.

§2. Trong khi cử hành Thánh Lễ, không được đặt Mình Thánh để chầu trong cùng một nơi của nhà thờ hay nhà nguyện.

Điều 942

Trong những nhà thờ và nhà nguyện nói trên, khuyên hằng năm nên tổ chức một buổi chầu Mình Thánh cách trọng thể trong một thời gian thích hợp, mặc dù không liên tục, để cộng đoàn địa phương suy niệm và tôn thờ mầu nhiệm Thánh Thể cách sâu xa hơn; tuy nhiên chỉ được tổ chức chầu Mình Thánh như thế, nếu biết trước là có đủ số tín hữu đến tham dự, nhưng vẫn phải giữ các quy tắc đã được quy định.

Điều 943

Thừa tác viên đặt Mình Thánh để chầu và ban phép lành Thánh Thể là tư tế hay phó tế; trong những hoàn cảnh riêng, thừa tác viên giúp lễ, thừa tác viên ngoại thường cho rước lễ hay một người nào khác được Đấng Bản Quyền địa phương ủy quyền, có thể đặt và cất Mình Thánh, chứ không ban phép lành, nhưng vẫn phải giữ những quy định của Giám Mục giáo phận.

Điều 944

§1. ở đâu Giám Mục giáo phận xét là có thể, nên tổ chức một cuộc rước kiệu Thánh Thể qua các đường phố công cộng, nhất là trong những ngày lễ trọng kính Mình và Máu Đức Kitô, để công khai tỏ lòng tôn thờ Thánh Thể.

§2. Giám Mục giáo phận ấn định những nội quy về việc tham dự rước kiệu và về tính cách trang nghiêm của cuộc rước kiệu.

CHƯƠNG 3
BỔNG LỄ ĐỂ CỬ HÀNH THÁNH LỄ

Điều 945

§1. Theo tục lệ đã được Giáo Hội chuẩn nhận, bất cứ tư tế nào cử hành hoặc đồng tế Thánh Lễ cũng có Thể nhận một bổng lễ để áp dụng lễ theo một ý chỉ nhất định.

§2. Rất khuyến khích các tư tế cử hành Thánh Lễ theo ý chỉ của các Kitô hữu, nhất là của những người nghèo túng, ngay cả khi không nhận bổng lễ.

Điều 946

Khi dâng bổng lễ để linh mục áp dụng lễ theo ý chỉ của mình, các Kitô hữu thông phần vào lợi ích của Giáo Hội, và bằng bổng lễ này, họ chia sẻ mối quan tâm của Giáo Hội trong việc nâng đỡ các thừa tác viên và các công việc của Giáo Hội.

Điều 947

Phải tuyệt đối tránh mọi hình thức thương mại hay buôn bán trong vấn đề bổng lễ.

Điều 948

Phải áp dụng từng lễ riêng theo từng ý chỉ của mỗi người, một khi bổng lễ đã được dâng và đã được chấp nhận, dù là nhỏ mọn.

Điều 949

Người nào buộc phải cử hành và áp dụng lễ theo ý chỉ của những người đã dâng bổng lễ, thì vẫn buộc phải chu toàn bổn phận đó, ngay cả khi mất hết bổng lễ đã nhận mà không do lỗi của mình.

Điều 950

Nếu một số tiền được dâng để xin áp dụng lễ mà không định rõ số lễ phải cử hành, thì phải xác định số lễ này dựa vào giá bổng lễ đã được ấn định tại nơi người xin lễ ở, trừ khi ý của người xin lễ được suy đoán cách hợp thức là không phải như thế.

Điều 951

§1. Tư tế cử hành nhiều Thánh Lễ trong cùng một ngày có thể áp dụng mỗi lễ theo một ý chỉ, vì đó là bổng lễ đã được dâng; tuy nhiên, trừ ngày lễ Giáng Sinh, tư tế phải giữ luật này là chỉ được hưởng bổng lễ của một Thánh Lễ mà thôi và phải dành những bổng lễ khác vào những mục đích đã được Đấng Bản Quyền ấn định; nhưng được nhận một phần thù lao nào đó với danh nghĩa ngoại tại.

§2. Tư tế đồng tế Thánh Lễ thứ hai trong cùng một ngày, thì không thể nhận thêm một bổng lễ nữa dưới bất cứ danh nghĩa nào.

Điều 952

§1. Công đồng giáo tỉnh hay hội nghị Giám Mục giáo tỉnh ra sắc lệnh ấn định mức tiền của bổng lễ phải dâng để cử hành và để áp dụng lễ cho toàn giáo tỉnh, và tư tế không được phép đòi một số tiền nhiều hơn nhưng ngài được phép nhận được một bổng lễ cao hơn mức đã được ấn định để áp dụng lễ, nếu người ta tự nguyện dâng bổng lễ ấy và cũng được phép nhận một bổng lễ thấp hơn.

§2. Ở đâu không có sắc lệnh như trên, thì phải giữ tục lệ hiện hành trong giáo phận.

§3. Các thành viên của bất cứ hội dòng nào cũng phải tôn trọng sắc lệnh ấy hoặc tục lệ địa phương được nói đến ở §§1 và 2.

Điều 953

Không ai được phép nhận bổng lễ để tự mình áp dụng lễ, nhiều đến nỗi không thể chỉ lễ hết trong vòng một năm.

Điều 954

Nếu trong một số nhà thờ hoặc nhà nguyện nào đó, số Thánh Lễ xin cử hành vượt quá số Thánh Lễ có thể được cử hành ở đấy, thì số Thánh Lễ dư có thể được cử hành ở nơi khác, trừ khi những người xin lễ đã minh nhiên bày tỏ ý muốn trái ngược.

Điều 955

§1. Ai muốn trao cho những người khác việc cử hành Thánh Lễ phải áp dụng, thì phải trao việc cử hành Thánh Lễ ấy cho những tư tế mình muốn càng sớm càng tốt, miễn là mình biết rõ các vị đó không chút hồ nghi; phải chuyển nguyên bổng lễ nhận được, trừ khi biết chắc chắn số tiền vượt quá mức đã được ấn định trong giáo phận là cho cá nhân mình; và vẫn còn nghĩa vụ phải cử hành các Thánh lễ ấy cho đến khi có bằng chứng là đã có người nhận nhiệm vụ dâng lễ và bổng lễ.

§2. Thời hạn phải cử hành Thánh Lễ bắt đầu từ ngày tư tế nhận cử hành các Thánh Lễ ấy, trừ khi đã thấy rõ cách khác.

§3. Ai trao những Thánh Lễ phải cử hành cho những người khác, thì phải ghi ngay vào sổ cả số lễ đã nhận, lẫn số lễ đã trao cho những người khác, cũng ghi luôn số tiền của những bổng lễ ấy.

§4. Bất cứ tư tế nào cũng phải ghi cẩn thận những Thánh Lễ mình đã nhận cử hành cũng như những Thánh Lễ mình đã cử hành rồi.

Điều 956

Tất cả và từng người quản trị các việc nhằm mục tiêu đạo đức hoặc những người bị buộc cách nào đó phải chăm lo việc cử hành Thánh Lễ, dù là giáo sĩ hay giáo dân, đều phải chuyển cho Đấng bản quyền của mình những ý lễ đã không làm xong trong một năm, theo thể thức do các vị ấy ấn định.

Điều 957

Trong các nhà thờ thuộc giáo sĩ triều, nhiệm vụ và quyên chăm lo việc chu toàn các ý lễ thuộc về Đấng Bản Quyền địa phương; còn trong các nhà thờ thuộc những hội dòng hay tu đoàn tông đồ, thì nhiệm vụ và quyền ấy thuộc về các Bề Trên của hội dòng hay tu đoàn.

Điều 958

§1. Cha sở và cha quản nhiệm một nhà thờ hay một nơi thánh khác thường hay nhận bổng lễ, phải có một sổ riêng trong đó phải ghi cẩn thận số Thánh Lễ phải cử hành, ý chỉ, bổng lễ và những Thánh Lễ đã làm xong.

§2. Đấng Bản Quyền phải đích thân hoặc nhờ người khác kiểm soát mỗi năm những sổ lễ đó.

ĐỀ MỤC 4
BÍ TÍCH SÁM HỐI

Điều 959

Trong bí tích sám hối, các tín hữu nào thú tội với mình với một thừa tác viên hợp pháp, ăn năn về những tội ấy và quyết tâm sửa mình, thì nhờ việc xá giải do chính thừa tác viên ấy ban, họ được Thiên Chúa tha thứ các tội đã phạm sau khi chịu phép rửa tội, và đồng thời được hòa giải với Giáo Hội mà họ đã làm tổn thương khi phạm tội.

CHUƠNG I
CỬ HÀNH BÍ TÍCH SÁM HỐI

Điều 960

Việc xưng tội riêng và xưng tội đầy đủ cùng với việc xá giải tạo thành phương cách thông thường duy nhất, nhờ đó một tín hữu ý thức mình có tội trọng được hòa giải với Thiên Chúa và với Giáo Hội; chỉ có sự bất lực thể lý hay luân lý mới miễn chuẩn việc xưng tội như trên, trong trường hợp này, việc hòa giải cũng có thể được thực hiện bằng những cách khác.

Điều 961

§1. Không thể ban ơn xá giải chung cho nhiều hối nhân cùng một lúc, nếu mỗi cá nhân không thú tội trước, trừ:

10 trường hợp nguy tử sắp xảy ra và không đủ thời giờ cho một hay nhiều tư tế nghe từng hối nhân xưng tội;

20 trường hợp có nhu cầu nghiêm trọng, nghĩa là khi có đông hối nhân mà không có đủ cha giải tội để nghe từng người xưng tội đúng cách trong một thời gian thích hợp, đến nỗi các hối nhân không được lãnh ơn của bí tích hoặc không được rước lễ trong thời gian lâu dài mà không do lỗi của họ, tuy nhiên, không được coi là có nhu cầu đủ, khi không có sẵn cha giải tội chỉ vì có đông hối nhân như có thể xảy ra trong một ngày lễ lớn hoặc trong một cuộc hành hương lớn nào đó.

§2. Việc nhận định xem những điều kiện cần thiết chiếu theo quy tắc của §1, 20 có hay không là thuộc về Giám Mục giáo phận; ngài có thể xác định những trường hợp có nhu cầu như thế, dựa vào những tiêu chuẩn đã được thỏa thuận chung với các thành viên khác của Hội Đồng Giám Mục.

Điều 962

§1. Để hưởng nhờ hữu hiệu ơn xá giải bí tích được ban cùng một lúc cho nhiều người, người kitô hữu không những phải được chuẩn bị đầy đủ, mà đồng thời còn phải quyết tâm là sẽ đi xưng tội riêng vào thời gian thích hợp, về các tội trọng mà hiện tại họ không thể xứng thú như vậy được.

§2. Trong mức độ có thể, ngay vào dịp lãnh nhận một ơn xá giải chung, các Kitô hữu phải được dạy cho biết những điều kiện buộc phải có chiếu theo quy tắc của §1, và kể cả trong trường hợp nguy tử, nếu còn thời giờ, thì phải khuyên bảo trước khi xá tội chung, để mỗi người lo giục lòng ăn năn sám hối.

Điều 963

Miễn là vẫn giữ nguyên nghĩa vụ được nói đến ở điều 989, nguời nào được tha các tội trọng nhờ một ơn xá giải chung, thì phải đi xưng tội riêng sớm hết sức khi có dịp, trước khi lãnh nhận ơn xá tội chung một lần khác, trừ khi có một lý do chính đáng can thiệp vào.

Điều 964

§1. Nơi thừơng ban bí tích Sám Hối là nhà thờ hay nhà nguyện.

§2. Về tòa giải tội thì Hội đồng Giám Mục phải ấn định những quy tắc, nhưng phải dự liệu đặt các tòa giải tội ở một nơi dễ thấy, các tòa này phải có một chấn song ngăn cách hối nhân với cha giải tội, và các tín hữu nào muốn thì có thể tự do đến tòa giải tội.

§3. Không được giải tội ở ngoài tòa giải tội, trừ khi có một lý do chính đáng.

CHƯƠNG II
THỪA TÁC VIÊN BÍ TÍCH SÁM HỐI

Điều 965

Chỉ có tư tế là thừa tác viên bí tích Sám Hối.

Điều 966

§1. Để giải tội thành sự, ngoài quyền thánh chức, thừa tác viên buộc phải có năng quyền thi hành quyền thánh chức ấy đối với các tín hữu mà ngài ban ơn xá giải.

§2. Tư tế có thể có năng quyền này, hoặc chiếu theo chính luật, hoặc do nhà chức trách có thẩm quyền ban chiếu theo quy tắc của điều 969.

Điều 967

§1. Ngoài Đức Giáo Hoàng ra, các vị Hồng Y đương nhiên có năng quyền giải tội cho các tín hữu ở khắp nơi trên thế giới; cũng vậy, các Giám Mục thi hành năng quyền ấy cách hợp thức ở khắp nơi, trừ khi Giám Mục giáo phận từ chối điều đó trong một trường hợp đặc biệt.

§2. Những vị có năng quyền giải tội thường xuyên chiếu theo chức vụ hoặc do Đấng Bản Quyền địa phương nơi nhập tịch hoặc nơi mình cư ngụ ban, có thể thi hành năng quyền ấy ở khắp nơi, trừ khi Đấng Bản Quyền địa phương từ chối điều đó trong một trường hợp đặc biệt, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 974 §§2 và 3.

§3. Những vị nào có năng quyền giải tội chiếu theo chức vụ hoặc do Bề Trên có thẩm quyền ban chiếu theo quy tắc của điều 968 §2 và 969 §2, thì đương nhiên có quyền ấy ở khắp nơi đối với các thành viên của hội dòng hay của tu đoàn mình, cũng như đối với những người khác ngày đêm cư ngụ tại một trong các nhà của hội dòng hay tu đoàn; những vị ấy sử dụng hợp thức năng quyền này, trừ khi một Bề Trên cấp cao từ chối điều đó đối với những người thuộc quyền ngài, trong một trường hợp đặc biệt.

Điều 968

§1. Chiếu theo chức vụ, Đấng Bản Quyền địa phương, vị kinh sĩ xá giải, cũng như cha sở và những người thay quyền cha sở đều có năng quyền giải tội, và mỗi người trong quyền hạn của mình.

§2. Chiếu theo chức vụ, Bề Trên các hội dòng giáo sĩ thuộc luật giáo hoàng hoặc các tu đoàn tông đồ giáo sĩ thuộc luật giáo hoàng có quyền hành pháp trong việc lãnh đạo chiếu theo quy tắc của hiến pháp, thì có năng quyền giải tội cho các người thuộc quyền mình và cho những người khác ngày đêm cư ngụ trong nhà mình, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 630 §4.

Điều 969

§1. Chỉ Đấng Bản Quyền địa phương có thẩm quyền ban cho bất cứ linh mục nào năng quyền giải tội cho bất cứ tín hữu nào, nhưng những linh mục là thành viên của một hội dòng không được dùng năng quyền ấy khi không có phép ít là được suy đoán của Bề Trên mình.

§2. Bề Trên của hội dòng hoặc của một tu đoàn tông đồ được nói đến ở điều 968 §2, có thẩm quyền ban cho bất cứ linh mục nào năng quyền giải tội cho các người thuộc quyền mình và các người khác ngày đêm cư ngụ trong nhà mình.

Điều 970

Chỉ được ban năng quyền giải tội cho những linh mục nào đã được công nhận là có khả năng xứng hợp qua một cuộc khảo hạch hoặc khi đã biết rõ khả năng của họ bằng cách khác.

Điều 971

Đấng Bản Quyền địa phương không được ban năng quyền giải tội thường xuyên cho một linh mục, dù linh mục ấy có cư sở hay bán cơ sở thuộc quyền hạn mình, nếu trước đó không tham khảo ý kiến Đấng Bản Quyền của linh mục ấy, trong mức độ có thể.

Điều 972

Nhà chức trách có thẩm quyền được nói đến ở điều 969 có thể ban năng quyền giải tội cho một thời gian hoặc vô hạn hoặc hữu hạn.

Điều 973

Năng quyền giải tội thường xuyên phải được ban bằng văn bản.

Điều 974

§1. Đấng Bản Quyền địa phương cũng như Bề Trên có thẩm quyên không được thu hồi năng quyền giải tội thường xuyên đã được ban, trừ khi có lý do quan trọng.

§2. Khi năng quyền giải tội bị Đấng Bản Quyền địa phương đã ban năng quyền được nói đến ở điều 967§2 thu hồi, thì linh mục mất năng quyền ấy ở bất cứ nơi nào; còn khi năng quyền giải tội bị một Đấng Bản Quyền địa phương nào khác thu hồi, thì linh mục chỉ mất năng quyền ấy trong địa hạt của Đấng Bản Quyền đã thu hồi năng quyền.

§3. Bất cứ Đấng Bản Quyền địa phương nào đã thu hồi năng quyền giải tội của một linh mục, thì phải báo cho Đấng Bản Quyền riêng tại nơi linh mục ấy đã nhập tịch, nhưng nếu là thành viên của một hội dòng, thì phải báo cho Bề Trên có thẩm quyền của đương sự.

§4. Khi bị Bề Trên cấp cao của mình thu hồi năng quyền giải tội, thì linh mục mất năng quyền ấy ở khắp nơi đối với các thành viên của hội dòng; nhưng khi một Bề Trên có thẩm quyền khác thu hồi năng quyền giải tội, thì linh mục chỉ mất năng quyền ấy đối với các thành viên thuộc quyền hạn của Bề Trên đó.

Điều 975

Ngoài trường hợp bị thu hồi, năng quyền được nói đến ở điều 967 §2 chấm dứt do việc mất giáo vụ, do xuất tịch và còn do mất cư sở.

Điều 976

Cho dù không có năng quyền giải tội, bất cứ tư tế nào cũng giải hết mọi vạ và mọi tội cách thành sự và hợp thức cho mọi hối nhân lâm cơn nguy tử, mặc dầu có sự hiện diện của một tư tế được chuẩn nhận.

Điều 977

Giải tội phạm điều răn thứ sáu cho người đồng lõa thì bất thành, trừ trường hợp nguy tử.

Điều 978

§1. Khi giải tội, tư tế phải nhớ rằng nhiệm vụ của mình vừa là thẩm phán vừa là lương y, và đồng thời mình đã được Thiên Chúa đặt làm thừa tác viên của công lý và lòng nhân hậu của Chúa, để làm vinh danh Thiên Chúa và cứu độ các linh hồn.

§2. Với tư cách là thừa tác viên của Giáo Hội, khi ban bí tích, cha giải tội phải trung thành theo sát giáo huấn của huấn quyền và những quy tắc do nhà chức trách có thẩm quyền thiết lập.

Điều 979

Khi đặt những câu hỏi, tư tế phải tiến hành cách khôn ngoan và kín đáo, phải lưu ý đến địa vị và tuổi tác của hối nhân và phải tránh đừng hỏi tên người đồng lõa.

Điều 980

Nếu cha giải tội không hồ nghi về sự chuẩn bị của hối nhân, và nếu hối nhân xin xưng tội, thì ngài không được từ chối và cũng không được hoãn ban ơn xá giải.

Điều 981

Cha giải tội phải ra việc đền tội hữu ích và thích hợp cho hối nhân, tùy theo bản chất và số tội, nhưng phải lưu ý đến hoàn cảnh của hối nhân; chính hối nhân buộc phải tự mình thực hiện việc đền tội.

Điều 982

Người nào thú nhận là mình đã cáo gian với nhà chức trách Giáo Hội một cha giải tội vô tội đã dụ dỗ phạm tội nghịch điều răn thứ sáu của Thập Giới, thì chỉ được xá giải nếu trước đó đương sự đã chính thức rút lại lời cáo gian ấy và sẵn lòng đền bù những thiệt hại, nếu có.

Điều 983

§1. Ấn tín bí tích là điều bất khả xâm phạm, vì thế, tuyệt đối cấm cha giải tội không được tiết lộ hối nhân bằng lời nói hay bằng cách nào khác, và vì bất cứ lý do gì.

§2. Thông dịch viên, nếu có, và tất cả mọi người đã biết được tội bằng bất cứ cách nào, do việc thú tội, cũng đều buộc phải giữ bí mật.

Điều 984

§1. Tuyệt đối cấm cha giải tội, dùng những kiến thức biết được trong lúc giải tội để làm hại hối nhân, mặc dù không có nguy cơ tiết lộ nào.

§2. Người cầm quyền không thể dùng những kiến thức biết được bất cứ lúc nào do việc giải tội, để lãnh đạo ở tòa ngoài, bằng bất cứ cách nào.

Điều 985

Vị giáo tập và cộng sự viên của mình, giám đốc của chủng viện hoặc của một cơ sở giáo dục khác, không được giải tội cho học sinh cư ngụ trong nhà mình, trừ khi những học sinh ấy tự nguyện xin điều đó trong những trường hợp đặc biệt.

Điều 986

§1. Những vị có nhiệm vụ coi sóc linh hồn buộc phải liệu sao cho những tín hữu đã được trao cho mình được xưng tội, mỗi khi họ xin cách hợp lý, và phải tạo cơ hội cho họ đến xưng tội riêng bằng cách ấn định ngày giờ thuận tiện cho họ.

§2. Trong trường hợp có nhu cầu khẩn cấp, bất cứ cha giải tội nào, và trong trường hợp nguy tử, thì bất cứ tư tế nào cũng buộc phải giải tội cho Kiô hữu.

CHƯƠNG 3
HỐI NHÂN

Điều 987

Để hưởng nhờ phương dược cứu độ của bí tích Sám Hối, người Kitô hữu phải được chuẩn bị thế nào để trở về với Thiên Chúa bằng cách từ bỏ các tội đã phạm và quyết tâm sửa mình.

Điều 988

§1. Sau khi đã xét mình kỹ lưỡng và ý thức được tội của mình, người Kitô hữu buộc phải xưng các loại tội trọng và số tội trọng đã phạm sau khi lãnh nhận bí tích Rửa Tội, mà chưa được quyền tháo gỡ của Giáo Hội tha trực tiếp và họ chưa xưng trong lần xưng tội riêng.

§2. Khuyên các Kitô hữu cũng xưng cả những tội nhẹ nữa.

Điều 989

Mọi tín hữu, sau khi đến tuổi khôn, buộc phải xưng các tội trọng của mình một cách trung thực, một năm ít là một lần.

Điều 990

Không cấm xưng tội qua một thông dịch viên, nhưng phải tránh những lạm dụng và gương xấu, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 983 §2.

Điều 991

Mọi Kitô hữu có trọn quyền xưng tội với cha giải tội nào đã được chuẩn nhận cách hợp thức mà mình thích, mặc dầu vị ấy thuộc một lễ điển khác.

CHƯƠNG 4
ÂN XÁ

Điều 992

Ân xá là việc tha trước mặt Thiên Chúa hình phạt tạm thời phải chịu vì các tội đã được xóa bỏ; Kitô hữu nào đã được chuẩn bị đầy đủ và đã thực hiện một số điều kiện đã được ấn định, thì được hưởng ơn tha thứ này nhờ sự trợ giúp của Giáo Hội; với tư cách là thừa tác viên ơn cứu chuộc, Giáo Hội dùng quyền mình để phân phát và áp dụng kho tàng đền tội của Đức Kitô và các thánh.

Điều 993

Ân xá gồm có tiểu xá hoặc toàn xá, tùy theo ân xá tha một phần hay tha tất cả hình phạt tạm thời phải chịu vì tội.

Điều 994

Bất cứ tín hữu nào cũng có thể hưởng ơn tiểu xá hoặc ơn toàn xá, hoặc cho chính mình, hoặc dành cho những người đã qua đời.

Điều 995

§1. Ngoài quyền bính tối cao của Giáo Hội, chỉ những vị nào được luật công nhận là có quyền, hoặc được Đức Giáo Hoàng Rôma ban quyền, mới có thể ban phát các ân xá.

§2. Không một quyền bính nào dưới quyền Đức Giáo Hoàng Rôma có thể trao cho người khác quyền ban ân xá, trừ khi được Tông Tòa minh nhiên ban cho quyền ấy.

Điều 996

§1. Để có thể hưởng ân xá, đương sự phải là người được Rửa Tội, không bị vạ tuyệt thông và sống trong tình trạng ân sủng, ít là vào lúc kết thúc các công việc đã được quy định.

§2. Tuy nhiên, để có thể hưởng ân xá, đương sự phải có ý hướng ít là tổng quát muốn thủ đắc các ân xá và phải chu toàn những việc buộc phải làm trong thời gian đã được ấn định và với cách thức đã được quy định, theo tinh thần của việc ban ân xá.

Điều 997

Về việc ban và hưởng ân xá, còn phải giữ các quy định khác trong luật riêng của Giáo Hội.

ĐỀ MỤC 5
BÍ TÍCH XỨC DẦU BỆNH NHÂN

Điều 998

Qua bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân, Giáo Hội phó thác những tín hữu bệnh tật hiểm nghèo cho Chúa chịu nạn và vinh quang để Người nâng đỡ và cứu chữa họ; bí tích này được ban bằng việc xức dầu trên bệnh nhân và đọc những lời đã được quy định trong sách phụng vụ.

CHƯƠNG 1
CỬ HÀNH BÍ TÍCH XỨC DẦU BỆNH NHÂN

Điều 999

Ngoài Giám Mục, những người sau đây có thể làm phép dầu để dùng vào việc xức dầu bệnh nhân;

10 những vị được luật đồng hóa với Giám Mục giáo phận;

20 trong trường hợp khẩn cấp, bất cứ linh mục nào nhưng trong chính lúc cử hành bí tích mà thôi.

Điều 1000

§1. Việc xức dầu phải được thực hiện cẩn thận với những lời đọc, theo thứ tự và theo thể thức đã được quy định trong các sách phụng vụ; nhưng trong trường hợp cần thiết, chỉ cần một lần xức dầu trên trán hoặc thậm chí trên một phần khác của thân thể, nhưng vẫn phải đọc trọn vẹn công thức.

§2. Thừa tác viên phải xức dầu bằng chính tay mình, trừ khi có một lý do nghiêm trọng khuyên dùng một dụng cụ.

Điều 1001

Các vị chủ chăn các linh hồn và các thân nhân của bệnh nhân phải liệu sao cho các bệnh nhân được lãnh nhận sợ trợ lực của bí tích này vào lúc thuận tiện.

Điều 1002

Có thể xức dầu chung cho nhiều bệnh nhân cùng một lúc, theo các quy định của Giám Mục giáo phận nếu họ đã được chuẩn bị chu đáo và đã dọn mình đầy đủ.

CHƯƠNG 2
THỪA TÁC VIÊN
BÍ TÍCH XỨC DẦU BỆNH NHÂN

Điều 1003

§1. Tất cả mọi tư tế và chỉ có tư tế mới ban thành sự bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân.

§2. Tất cả mọi tư tế được ủy nhiệm coi sóc các linh hồn có bổn phận và có quyền ban bí tích Xức dầu Bệnh Nhân cho những tín hữu được ủy thác cho trách nhiệm mục vụ của mình; khi có một lý do hợp lý, bất cứ tư tế nào cũng có thể ban bí tích này với sự chấp thuận ít là được suy đoán của tư tế vừa được nói ở trên.

§3. Bất cứ tư tế nào cũng được mang theo dầu đã được làm phép, để có thể ban bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân trong trường hợp cần thiết.

CHƯƠNG 3
NHỮNG NGƯỜI LÃNH NHẬN
BÍ TÍCH XỨC DẦU BỆNH NHÂN

Điều 1004

§1. Có thể ban Bí Tích Xức Dầu Bệnh Nhân cho tín hữu đã biết sử dụng trí khôn, khi họ bắt đầu ở trong tình trạng hiểm nghèo vì bệnh tật hay vì tuổi già.

§2. Bí tích này có thể được ban lại, nếu sau khi hồi phục, bệnh nhân lại ngã bệnh nặng, hoặc nếu nguy cơ trở nên nghiêm trọng hơn trong cùng một cơn bệnh kéo dài.

Điều 1005

Phải ban bí tích này trong trường hợp hồ nghi bệnh nhân đã biết sử dụng trí khôn hay chưa, bệnh có hiểm nghèo hay không hoặc bệnh nhân đã chết hay chưa.

Điều 1006

Phải ban bí tích này cho các bệnh nhân nào đã xin lãnh nhận ít là cách mặc nhiên, lúc họ còn tỉnh táo.

Điều 1007

Không được ban bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân cho những người cố chấp sống trong tội trọng công khai.

ĐỀ MỤC 6
BÍ TÍCH TRUYỀN CHỨC THÁNH

Điều 1008

Do bí tích Truyền Chức Thánh đã được Thiên Chúa thiết lập, một số Kitô hữu được ghi ấn tích không thể xóa nhòa và được đặt làm những thừa tác viên có chức thánh. Như thế họ được thánh hiến và được chỉ định, mỗi người tùy theo cấp bậc của mình, để phục vụ đoàn dân Chúa, bằng một danh hiệu mới và đặc thù.

Điều 1009

§1. Các chức thánh là chức Giám Mục, chức linh mục và chức phó tế.

§2. Những chức ấy được trao ban bằng việc đặt tay và bằng việc đọc lời nguyện thánh hiến đã được các sách phụng vụ quy định cho mỗi cấp bậc.

§3. Những người chịu chức giám mục hoặc linh mục nhận lãnh sứ mạng và năng quyền hành động trong cương vị (in persona) của Chúa Kitô thủ lãnh, trái lại, các phó tế được khả năng phục vụ dân Chúa trong việc phục vụ phụng vụ, Lời Chúa và bác ái.

CHƯƠNG 1
VIỆC CỬ HÀNH
VÀ THỪA TÁC VIÊN LỄ TRUYỀN CHỨC

Phải cử hành bí tích Truyền Chức trong Thánh Lễ ngày Chúa Nhật hay một ngày lễ buộc, nhưng vì những lý do mục vụ có thể cử hành bí tích này vào những ngày khác, kể cả những ngày thường trong tuần.

Điều 1011

§1. Cách chung, lễ truyền chức phải được cử hành trong nhà thờ chính tòa; nhưng vì lý do mục vụ có thể được cử hành trong một nhà thờ hoặc một nhà nguyện khác.

§2. Phải mời các giáo sĩ và các Kitô hữu khác tham dự lễ truyền chức để buổi lễ có thật đông người tham dự.

Điều 1012

Thừa tác viên của bí tích Truyền Chức Thánh là Giám Mục đã được tấn phong.

Điều 1013

Không Giám Mục nào được phép tấn phong Giám Mục cho ai, nếu trước đó chưa có ủy nhiệm thư của Đức Giáo Hoàng.

Điều 1014

Trừ khi được Tông Tòa miễn chuẩn, trong lễ tấn phong Giám Mục, Giám Mục chủ phong phải có thêm ít là hai Giám Mục phụ phong khác, tuy nhiên, cùng với các vị ấy, tất cả các Giám mục hiện diện cũng nên tấn phong người được tuyển chọn.

Điều 1015

§1. Mỗi tiến chức linh mục và mỗi tiến chức phó tế phải được chính Giám Mục của mình truyền chức, hoặc phải có thư giới thiệu hợp thức của ngài.

§2. Chính Giám Mục riêng phải đích thân truyền chức cho những người thuộc quyền mình, nếu ngài không bị một ngăn trở chính đáng; nhưng ngài không thể truyền chức cách hợp thức cho một người thuộc quyền nhưng lại theo nghi lễ Đông Phương, nếu không có một đặc ân của Tòa Thánh.

§3. Vị nào có thể cấp thư giới thiệu để chịu các chức thánh, thì vị ấy cũng có thể đích thân ban các chức ấy, nếu có ấn tích Giám Mục.

Điều 1016

Về việc truyền chức phó tế cho những người muốn gia nhập hàng giáo sĩ triều. Giám Mục riêng là Giám Mục giáo phận tại nơi tiến chức có cư sở hoặc Giám Mục giáo phận tại nơi tiến chức đã quyết định dấn thân phục vụ; về việc truyền chức linh mục cho các giáo sĩ triều, Giám Mục riêng là Giám Mục giáo phận tại nơi tiến chức đã nhập tịch khi chịu chức phó tế.

Điều 1017

Bất cứ một Giám Mục nào cũng không thể ban bí tích Truyền Chức ngoài quyền hạn của mình, nếu không có phép của Giám Mục giáo phận.

Điều 1018

§1. Các vị sau đâycó thể cấp thư giới thiệu cho các giáo sĩ triều:

10 Giám Mục riêng được nói đến ở điều 1016.

20 Giám Quản tông toà; cũng như Giám Quản giáo phận với sự chấp thuận của ban tư vấn; Quyền Đại Diện và Quyền Phủ Doãn tông toà, với sự chấp thuận của hội đồng được nói đến ở điều 495 §2.

§2. Giám Quản giáo phận, Quyền Đại Diện và Quyền Phủ Doãn tông tòa không được cấp thư giới thiệu cho những người đã bị Giám Mục giáo phận hay Đại Diện hay Phủ Doãn tông tòa từ chối không cho tiến chức.

Điều 1019

§1. Bề Trên cấp cao của một hội dòng giáo sĩ thuộc luật giáo hoàng, hoặc của một tu đoàn tông đồ giáo sĩ thuộc luật giáo hoàng cấp thư giới thiệu để chịu chức phó tế và chức linh mục cho những người thuộc quyền mình đã được gia nhập vào hội dòng hay tu đoàn cách vĩnh viễn hoặc dứt khoát theo hiến pháp.

§2. Việc truyền chức cho tất cả những thành viên khác thuộc bất cứ hội dòng hoặc tu đoàn nào được chi phối bởi luật dành cho các giáo sĩ triều, mọi đặc ân đã được ban cho các Bề Trên đều bị thu hồi.

Điều 1020

Không được cấp thư giới thiệu, nếu trước đó không có tất cả các chứng thư và văn kiện mà luật buộc phải có chiếu theo quy tắc của các điều 1050 và 1051.

Điều 1021

Có thể gửi thư giới thiệu đến bất cứ Giám mục nào hiệp thông với Tông Toà, nhưng không được gửi đến một Giám Mục nào thuộc một lễ điển khác với lễ điển của người tiến chức, nếu không có một đặc ân của Tòa Thánh.

Điều 1022

Một khi đã nhận được thư giới thiệu chính thức, Giám Mục truyền chức không được tiến hành việc phong chức, nếu không hoàn toàn chắc chắn về tính xác thực của thư ấy.

Điều 1023

Các thư giới thiệu có thể bị giới hạn hoặc bị thu hồi do vị đã ban cấp hoặc do người kế vị, nhưng một khi đã được ban cấp, thư giới thiệu không mất hiệu lực khi vị ban cấp hết quyền.

CHƯƠNG 2
NHỮNG NGƯỜI LÃNH NHẬN CHỨC THÁNH

Điều 1024

Chỉ có người nam đã được Rửa Tội mới nhận lãnh thành sự bí tích Truyền Chức Thánh.

 Điều 1025

§1. Để trao ban chức linh mục hay chức phó tế cách hợp thức, sau khi đã trải qua thời gian thử thách chiếu theo quy tắc của luật, ứng viên buộc phải hội đủ những đức tính thích hợp, theo sự nhận định của Giám Mục riêng hoặc của Bề Trên cấp cao có thẩm quyền, không bị một điều bất hợp luật hay một ngăn trở nào ràng buộc, và phải chu toàn các điều kiện tiên quyết chiếu theo quy tắc của các điều 1033-1039; ngoài ra, còn phải thu thập các văn kiện được nói đến ỏ điều 1050 và phải thực hiện việc điều tra được dự liệu ở điều 1051.

§2. Hơn nữa ứng viên phải được Bề Trên hợp pháp của mình nhận định là hữu ích cho thừa tác vụ của Giáo Hội.

§3. Giám Mục truyền chức cho một người thuộc quyền mình để phục vụ một giáo phận khác, thì phải chắc chắn là người nhận lãnh chức thánh sẽ gia nhập giáo phận ấy.

TIẾT 1
NHỮNG ĐIỀU KIỆN
BUỘC NGƯỜI NHẬN LÃNH CHỨC THÁNH PHẢI CÓ

Điều 1026

Để được thụ phong, đương sự phải được tự do hoàn toàn; tuyệt đối cấm cưỡng bách một người phải lãnh nhận chức thánh bằng bất cứ cách nào và vì bất cứ lý do nào, hoặc ngăn cản không cho một người có đủ khả năng xứng hợp theo giáo luật lãnh nhận các chức ấy.

Điều 1027

Các ứng viên phó tế và các ứng viên linh mục phải được đào tạo và được chuẩn bị kỹ lưỡng, chiếu theo quy tắc của luật.

Điều 1028

Giám Mục giáo phận hoặc Bề Trên có thẩm quyền phải liệu sao cho các ứng viên, trước khi được gọi lên một chức nào, phải được giáo huấn đầy đủ về những điều liên quan đến chức ấy cùng những nghĩa vụ của chức ấy.

Điều 1029

Dựa vào sự xét đoán khôn ngoan của mình và sau khi đã cân nhắc mọi sự, Bề Trên cấp cao có thẩm quyền chỉ nên cho tiến chức những ứng sinh có đức tin tinh tuyền, ý hướng ngay lành, kiến thức cần thiết, danh thơm tiếng tốt, đức hạnh vẹn toàn, nhân đức vững vàng và các đức tính khác về thể lý cũng như về tâm lý phù hợp với chức thánh sẽ lãnh nhận.

Điều 1030

Trừ khi có một lý do giáo luật, cho dầu còn kín, Giám Mục riêng hoặc Bề Trên cấp cao có thẩm quyền không được cấm các phó tế thuộc quyền mình tiến tới chức linh mục, khi họ đã được đề cử tiến chức, và phải tôn trọng quyền thượng cầu chiếu theo quy tắc của luật.

Điều 1031

§1. Chỉ được truyền chức linh mục cho những người đã trọn hai mươi lăm tuổi và đã đủ trưởng thành, ngoài ra, còn phải giữ khoảng cách ít là sáu tháng giữa chức phó tế và chức linh mục; ứng viên lên chức linh mục chỉ có thể được chịu chức phó tế sau khi đã chọn hai mươi ba tuổi.

§2. Một ứng viên phó tế vĩnh viễn không kết hôn chỉ được chịu chức phó tế, nếu đã đủ ít là hai mươi lăm tuổi trọn; một ứng viên phó tế vĩnh viễn đã kết hôn rồi, thì phải đủ ít là ba mươi lăm tuổi trọn và phải được sự chấp thuận của vợ mình.

§3. Các Hội Đồng Giám Mục có trọn quyền ấn định quy tắc đòi hỏi tuổi cao hơn để tiến chức linh mục và phó tế vĩnh viễn.

§4. Quyền miễn chuẩn quá một năm về tuổi buộc phải có chiếu theo quy tắc của các §§1 và 2, được dành riêng cho Tông Toà.

Điều 1032

§1. Các ứng viên linh mục chỉ có thể chịu chức phó tế sau khi đã hoàn tất năm thứ năm của chu kỳ triết học và thần học.

§2. Sau khi đã hoàn tất chu kỳ học và trước khi được chịu chức linh mục, phó tế phải tham gia công tác mục vụ bằng cách thực hành chức phó tế trong một thời gian thích hợp do Giám Mục hay Bề Trên cấp cao có thẩm quyền xác định.

§3. Ứng viên phó tế vĩnh viễn chỉ được chịu chức này sau khi đã hoàn tất thời gian đào tạo.

TIẾT 2
NHỮNG ĐIỀU CẦN THIẾT
ĐỂ LÃNH NHẬN CHỨC THÁNH

Điều 1033

Chỉ có người nào lãnh nhận bí tích Thêm Sức rồi mới được lãnh nhận chức thánh cách hợp thức.

Điều 1034

§1. Chỉ được truyền chức cho một ứng viên phó tế hay một ứng viên linh mục, nếu trước đó đương sự đã được nhà chức trách được nói đến ở điều 1016 và 1019 ghi vào sổ các ứng viên qua nghi thức tiếp nhận của phụng vụ, sau khi đương sự đã tự tay viết và ký tên vào đơn xin và đã được nhà chức trách ấy chấp nhận bằng văn bản.

§2. Người nào đã gia nhập vào một hội dòng giáo sĩ bằng những lời khấn, thì không buộc phải có ghi thức tiếp nhận.

Điều 1035

 §1. Trước khi được tiến chức phó tế, dù là vĩnh viễn hay chuyển tiếp, đương sự buộc phải lãnh nhận và thi hành thừa tác vụ đọc sách và thừa tác vụ giúp lễ trong một thời gian thích hợp.

§2. Phải có khoảng cách ít là sáu tháng, từ khi lãnh nhận thừa tác vụ giúp lễ cho đến khi chịu chức phó tế.

Điều 1036

Để có thể chịu chức phó tế hay chức linh mục, ứng viên phải đệ trình cho Giám Mục riêng hoặc cho Bề Trên cấp cao có thẩm quyền một bản tuyên bố do chính tay mình viết và ký tên, trong đó đương sự xác nhận rằng mình tự nguyện và tự do lãnh nhận chức thánh và sẽ vĩnh viễn dấn thân cho thứa tác vụ của Giáo Hội, đồng thời xin được chấp nhận để chịu chức.

Điều 1037

Người sắp được tiến chức phó tế vĩnh viễn mà không kết hôn, cũng như người sắp được tiến chức linh mục, không được chấp nhận để chịu chức phó tế nếu họ đã không công khai đảm nhận nghĩa vụ sống độc thân trước mặt Thiên Chúa và Giáo Hội, theo nghi thức đã được quy định, hoặc nếu họ đã không tuyên khấn vĩnh viễn trong một hội dòng.

Điều 1038

Phó tế từ chối tiến chức linh mục không thể bị cấm thi hành chức thánh đã lãnh nhận, trừ khi mắc một ngăn trở theo giáo luật hay khi có một lý do nghiêm trọng nào khác mà Giám Mục giáo phận hoặc Bề Trên cấp cao có thẩm quyền phải thẩm định theo sự phán đoán của mình.

Điều 1039

Tất cả những người sắp chịu một chức thánh nào đó đều phải tĩnh tâm ít là năm ngày, tại nơi và theo thể thức do Đấng Bản Quyền ấn định; trước khi truyền chức, Giám Mục phải được thông báo về việc các ứng viên đã tĩnh tâm hợp lệ.

TIẾT 3
NHỮNG ĐIỀU BẤT HỢP LUẬT
VÀ CÁC NGĂN TRỞ KHÁC

Điều 1040

Những người đang mắc một ngăn trở vĩnh viễn nào đó được gọi là bất hợp luật, hoặc một ngăn trở đơn thuần, thì không được lãnh nhận các chức thánh; nhưng không có một ngăn trở nào khác ngoài những ngăn trở được nêu ra trong các điều khoản sau đây.

Điều 1041

Những người sau đậy được coi là bất hợp luật để chịu chức:

10 người mắc bệnh điên khùng theo một hình thức nào đó hoặc mắc bệnh tâm thần, mà theo ý kiến của giám định viên, bệnh ấy là do lý do khiến họ không có năng lực để chu toàn thừa tác vụ cách thích đáng;

20 người đã mắc tội bội giáo, lạc giáo hoặc ly giáo;

30 người đã mưu toan kết hôn, dầu chỉ là hôn nhân theo luật dân sự, trong khi còn mắc ngăn trở không kết hôn được do dây hôn nhân, hoặc do chức thánh, hoặc do lời khấn công vĩnh viễn giữ đức khiết tịnh, hoặc vì đương sự đã kết hôn với một người nữ đã kết hôn thành sự hay đang bị ràng buộc bởi cùng lời khấn giữ đức khiết tịnh ấy;

40 người đã phạm tội sát nhân hoặc phá thai có hiệu quả và mọi người cộng tác tích cực vào các tội đó;

50 người đã chủ tâm hủy hoại thân thể mình hay thân thể của người khác một cách nghiêm trọng hoặc người đã mưu toan tự vẫn;

60 người đã thực hiện một hành vi thuộc bí tích Truyền Chức dành riêng cho những vị có chức Giám Mục hay chức linh mục, khi không có chức ấy, hoặc đã bị cấm thi hành chức thánh ấy do một hình phạt giáo luật đã được tuyên bố hay tuyên kết.

Điều 1042

Những người sau đây bị ngăn trở đơn thuần để chịu chức:

10 người đã lập gia dình, trừ khi đương sự dự định lãnh nhận chức phó tế vĩnh viễn cách hợp thức;

20 người giữ chức vụ hay một nhiệm vụ quản trị có kèm theo việc phải tường trình mà các giáo sĩ không được làm chiếu theo quy tắc của các điều 285 và 286, cho đến khi nào hết đảm nhận chức vụ và việc quản trị đó, hay đã hoàn thành việc tường trình, đương sự mới được tự do;

30 người tân tòng, trừ khi Đấng Bản Quyền nhận xét là đương sự đã được thử thách đủ.

Điều 1043

Nếu biết có những ngăn trở lãnh nhận chức thánh, các Kitô buộc phải trình báo cho đấng Bản Quyền hay cho cha sở trước ngày truyền chức.

Điều 1044

§1. Những người sau đây được coi là bất hợp luật để thi hành chức thánh đã lãnh nhận:

10 người đã lãnh nhận các chức thánh cách bất hợp pháp đang khi ở trong tình trạng bất hợp luật để lãnh nhận chức thánh;

20 người đã mắc tội phạm được nói đến ở điều 1041, 20, nếu là tội phạm công khai;

30 người đã mắc tội phạm được nói đến ở điều 1041, 30, 40, 50, 60.

§2. Những người sau đây bị ngăn trở để thi hành chức thánh:

10 người đã lãnh nhận các chức thánh cách bất hợp pháp đang khi bị một ngăn trở để lãnh nhận chức thánh;

20 người mắc bệnh điên khùng hay một bệnh tâm thàn nào khác được nói đến ở điều 1041, 10, cho đến khi Đấng Bản Quyền cho phép thi hành chức ấy, sau khi đã tham khảo ý kiến của giám định viên.

Điều 1045

Dù không biết là có những điều bất hợp luật và những ngăn trở, thì vẫn bị mắc những điều bất hợp luật và những ngăn trở ấy.

Điều 1046

 Những điều bất hợp luật và những ngăn trở được nhân lên khi chúng phát xuất từ những nguyên nhân khác nhau, chứ không từ một nguyên nhân được lặp đi lặp lại, trừ trường hợp bất hợp luật xuất phát từ tội sát nhân hoặc phá thai có hiệu quả.

Điều 1047

§1. Tông Tòa dành riêng cho mình quyền miễn chuẩn mọi điều bất hợp luật, nếu sự kiện nền tảng của những điều bất hợp luật ấy đã được đưa ra tòa án.

§2. Quyền miễn chuẩn những điều bất hợp luật và những ngăn trở sau đây để lãnh nhận chức thánh cũng được dành riêng cho Tông Tòa:

10 những điều bất hợp luật do tội phạm công khai được nói đến ở điều 1041, 20 và 30;

20 điều bất hợp luật do tội phạm công khai hoặc kín đáo được nói đến ở điều 1041, 40;

30 ngăn trở được nói đến ở điều 1042, 10.

§3. Tông Tòa cũng dành riêng cho mình quyền miễn chuẩn những điều bất hợp luật để thi hành chức thánh đã lãnh nhận được nói đến ở điều 1041, 30, trong những trường hợp công khai mà thôi, và quyền miễn chuẩn những điều bất hợp luật cả trong những trường hợp kín đáo, được nói đến ở điều 1041, 40.

§4. Đấng Bản Quyền có thể miễn chuẩn những điều bất hợp luật và những ngăn trở không được dành riêng cho Tòa Thánh.

Điều 1048

Trong những trường hợp kín đáo và khẩn cấp hơn, nếu không thể đến được với Đấng Bản Quyền hoặc Tòa Ân Giải đối với những điều bất hợp luật được nói đến ở điều 1041, 30 và 40, và nếu nguy cơ thiệt hại nặng hoặc mất thanh danh sắp xảy ra, người bị ngăn trở không được thi hành chức thánh của mình do một điều bất hợp luật vẫn có thể thi hành chức thánh ấy, miễn là vẫn giữ nguyên nghĩa vụ phải đến với Đấng Bản Quyền hoặc Tòa Ân Giải sớm hết sức, qua trung gian của cha giải tội và không cần xưng danh tính.

Điều 1049

§1. Trong đơn xin miễn chuẩn những điều bất hợp luật và những ngăn trở, phải nêu rõ mọi điều bất hợp luật và mọi ngăn trở; tuy nhiên, việc miễn chuẩn tổng quát cũng có hiệu lực đối với những điều bất hợp luật và những ngăn trở đã không được nêu ra vì ngay tình, trừ những điều bất hợp luật được nói đến ở điều 1041, 40 hay những điều bất hợp luật đã được đưa ra tòa án, nhưng không có hiệu lực đối với những điều bất hợp luật và những ngăn trở đã không được nêu ra vì gian ý.

§2. Nếu là điều bất hợp luật do tội sát nhân hoặc tội phá thai, cũng phải nêu rõ số lần phạm tội nữa để miễn chuẩn có hiệu lực.

§3. Việc miễn chuẩn tổng quát những điều bất hợp luật và những ngăn trở để lãnh nhận chức thánh có hiệu lực cho tất cả mọi chức thánh.

TIẾT 4
CÁC VĂN BẢN CẦN THẾT VÀ VIỆC ĐIỀU TRA

Điều 1050

Để có thể được tiến cử lên các chức thánh, đương sự buộc phải có các văn bản sau đây:

10 giấy chứng nhận đã học xong chương trình chiếu theo quy tắc của điều 1032;

20 giấy chứng nhận đã chịu chức phó tế, nếu là những ứng sinh tiến chức linh mục;

30 giấy chứng nhận đã chịu phép Rửa Tội và phép Thêm Sức, cũng như đã lãnh nhận các thừa tác vụ được nói đến ở điều 1035, nếu là những ứng sinh tiến chức phó tế; hơn nữa, giấy chứng nhận đã làm bản tuyên bố được nói đến ở điều 1036, cũng như giấy chứng nhận đã cử hành bí tích Hôn Nhân và giấy chứng đã được sự chấp thuận của người vợ, nếu là ứng sinh chịu chức phó tế vĩnh viễn đã lập gia đình.

Điều 1051

Về việc điều tra các đức tính cần thiết của người nhận lãnh chức thánh, phải giữ những quy định sau đây:

10 phải có giấy chứng nhận của giám đốc chủng viện hay giám đốc cơ sở đào tạo về các đức tính cần thiết để lãnh nhận chức thánh, tức là: học thuyết ngay lành, đạo đức chân thành, hạnh kiểm tốt, khả năng thi hành thừa tác vụ của ứng sinh; và còn phải có giấy chứng nhận tình trạng sức khỏe thể lý và tâm lý, sau khi đã khám nghiệm kỹ lưỡng;

20 để điều tra cách thích hợp, Giám Mục giáo phận hoặc Bề Trên cấp cao có thể dùng những phương thế khác được xem là hữu ích, tùy theo hoàn cảnh mỗi thời và mỗi nơi, chẳng hạn như các chứng thư, các thông báo hay các thông tin khác.

Điều 1052

§1. Để có thể tiến hành truyền chức, khi truyền chức do quyền riêng của mình, thì chính Giám Mục phải biết chắc là đã thu thập được những văn kiện được nói đến ở điều 1050, đã thực hiện việc điều tra chiếu theo quy tắc của luật, và đã có những chứng cớ xác thực về khả năng xứng hợp của ứng viên.

§2. Để tiến hành việc truyền chức thánh cho một người không thuộc quyền mình, Giám Mục chỉ cần thư giới thiệu xác nhận là đã thu thập những văn kiện ấy, đã thực hiện việc điều tra chiếu theo quy tắc của luật, và đã biết chắc chắn khả năng xứng hợp của ứng viên; nếu người lãnh nhận chức thánh là thành viên của một hội dòng hay của một tu đoàn tông đồ, thì những thư giới thiệu ấy còn phải chứng nhận là đương sự đã vĩnh viễn gia nhập hội dòng hay tu đoàn, và là người thuộc quyền Bề Trên cấp thư giới thiệu.

§3. Mặc dù đã làm tất cả những việc nói trên, nếu có những lý do chắc chắn khiến cho Giám Mục hồ nghi ứng viên có khả năng xứng hợp để lãnh nhận các chức thánh hay không, thì ngài không được cho đương sự tiến chức.

CHƯƠNG 3
VIỆC GHI SỔ
VÀ CHỨNG THƯ TRUYỀN CHỨC

Điều 1053

§1. Sau khi đã truyền chức, phải ghi tên của từng người đã thụ phong và tên của thừa tác viên truyền chức, nơi và ngày truyền chức trong một cuốn sổ riêng được lưu giữ cẩn thận tại tòa giám mục ở nơi đã truyền chức và phải cẩn thận lưu giữ tất cả mọi văn kiện của mỗi lần truyền chức.

§2, Giám Mục truyền chức phải cấp cho mỗi người đã được thụ phong một giấy chứng nhận chính thức về việc nhận chức thánh; nếu được giới thiệu cho một Giám Mục khác truyền chức, thì các người mới thụ phong phải trình những giấy chứng nhận ấy cho Đấng Bản Quyền của mình để ghi vào sổ riêng được lưu giữ trong văn khố.

Điều 1054

Đấng Bản quyền địa phương, nếu những người thụ phong là giáo sĩ triều, hoặc Bề Trên cấp cao có thẩm quyền, nếu những người thụ phong là tu sĩ thuộc quyền mình, phải thông báo từng lần truyền chức cho cha sở tại nơi các đương sự đã được Rửa Tội, để ghi vào sổ Rửa Tội, chiếu theo quy tắc của điều 535 §2.

ĐỀ MỤC 7
BÍ TÍCH HÔN NHÂN

Điều 1055

§1. Do giao ước hôn nhân, môt người nam và một người nữ tạo thành một sự hiệp thông trọn cả cuộc sống; tự bản chất, giao ước ấy hướng về lợi ích của đôi bạn, cũng như đến việc sinh sản và giáo dục con cái; Chúa Kitô đã nâng giao ước hôn nhân giữa hai người đã được Rửa Tội lên hàng bí tích.

§2. Vì thế, giữa hai người đã được Rửa Tội không thể có khế ước hôn nhân thành sự, nếu đồng thời không phải là bí tích.

Điều 1056

 Những đặc tính chính yếu của hôn nhân là sự đơn nhất và sự bất khả phân ly, những đặc tính này có một sự bền vững đặc biệt trong hôn nhân Kitô giáo, vì có tính cách bí tích.

Điều 1057

§1. Chính sự ưng thuận của đôi bên được biểu lộ cách hợp thức giữa những người có năng cách về mặt pháp lý làm nên hôn nhân và không một quyền lực nào của loài người có thể thay thế được sự ưng thuận ấy.

 §2. Sự ưng thuận hôn nhân là một hành vi của ý chí, nhờ đó một người nam và một người nữ hiến thân cho nhau và chấp nhận nhau qua một giao ước bất khả thu hồi để tạo thành hôn nhân.

Điều 1058

Tất cả mọi người không bị luật cấm đều có thể kết hôn.

Điều 1059

Hôn nhân của người Công giáo, cho dù chỉ có một bên là Công giáo, bị chi phối không những bởi luật Thiên Chúa mà còn bởi luật Giáo Hội nữa, miễn là vẫn tôn trọng thẩm quyền của quyền bính dân sự đối với những hiệu quả thuần túy dân sự của chính hôn nhân này.

Điều 1060

Hôn nhân được luật ưu đãi, vì thế khi hồ nghi, hôn nhân vẫn được coi là thành sự cho đến khi có chứng cớ ngược lại.

Điều 1061

§1. Hôn nhân thành sự giữa hai người đã được Rửa Tội mới chỉ là hôn nhân thành nhận, nếu chưa có sự hoàn hợp; hôn nhân được gọi là thành nhận và hoàn hợp, nếu hai người phối ngẫu đã thực hiện hành vi vợ chồng với nhau theo cách thức hợp với nhân tính, mà hành vi này tự nó có khả năng dẫn tới sinh sản là mục tiêu tự nhiên của hôn nhân và do hành vi đó mà hai vợ chồng trở nên một xương một thịt.

§2. Sau khi đã cử hành hôn nhân, nếu hai người phối ngẫu đã sống chung với nhau, thì hôn nhân được suy đoán là đã hoàn hợp cho đến khi có chứng cớ ngược lại.

§3. Hôn nhân bất thành được gọi là hôn nhân giả định, nếu ít là một trong hai người phối ngẫu đã cử hành hôn nhân vì ngay tình, cho đến khi cả hai người biết chắc là hôn nhân ấy bất thành.

Điều 1062

§1. Lời hứa hôn đơn phương hoặc song phương, gọi là đính hôn, được chi phối bởi luật riêng do Hội Đồng Giám Mục ấn định, dựa theo phong tục và luật dân sự, nếu có.

§2. Lời hứa hôn không phát sinh tố quyền đòi phải cử hành hôn nhân, nhưng phát sinh tố quyền đòi đền bù thiệt hại theo mức độ đã gây ra.

CHƯƠNG 1
MỤC VỤ HÔN NHÂN VÀ NHỮNG VIỆC PHẢI LÀM
TRƯỚC KHI HÔN NHÂN ĐƯỢC CỬ HÀNH

Điều 1063

Các vị chủ chăn các linh hồn buộc phải liệu sao cho cộng đoàn Giáo Hội của mình biết trợ giúp các Kitô hữu, để bậc hôn nhân được bảo tồn trong tinh thần Kitô giáo và tiến tới trong sự hoàn thiện. Việc trợ giúp này phải được thực hiện nhất là:

10 bằng việc giảng thuyết, bằng việc huấn giáo thích hợp cho nhi đồng, thanh niên và người thành niên, và cũng bằng việc sử dụng các phương tịên truyền thông xã hội, nhờ đó các Kitô hữu được giáo huấn về ý nghĩa hôn nhân Kitô giáo và về vai trò của người phối ngẫu cũng như của các bậc cha mẹ Kitô giáo;

20 bằng việc chuẩn bị cá nhân để kết hôn, nhờ đó hai vợ chồng được sẵn sàng hướng đến sự thánh thiện cũng như những bổn phận của bậc sống mới;

30 bằng việc cử hành hôn nhân cách hữu hiệu theo phụng vụ, để minh hoạ rằng hai người phối ngẫu và biểu hiện của mầu nhiệm hiệp nhất và tình yêu phong phú giữa Chúa Kitô và Giáo Hội, và họ tham dự vào mầu nhiệm ấy;

 40 bằng việc giúp đỡ các đôi vợ chồng, để khi trung thành gìn giữ và bảo vệ giao ước hôn nhân, họ biết sống cuộc đời đôi bạn ngày càng thánh thiện và hoàn hảo hơn.

Điều 1064

Đấng Bản Quyền địa phương liệu sao để tổ chức chu đáo việc trợ giúp ấy, sau khi đã tham khảo ý kiến của các người nam cũng như nữ giàu kinh nghiệm và có chuyên môn, nếu thấy thuận tiện.

Điều 1065

§1. Người công giáo nào chưa lãnh bí tích Thêm Sức, thì phải lãnh bí tích ấy trước khi kết hôn, nếu điều đó có thể thực hiện được mà không có bất tiện nghiêm trọng.

§2. Để lãnh nhận bí tích hôn nhân cách hữu hiệu, tha thiết khuyên nhủ đôi bạn nên lãnh nhận bí tích Sám Hối và bí tích Thánh Thể.

Điều 1066

Trước khi cử hành bí tích Hôn Nhân phải biết chắc không có gì cản trở việc cử hành bí tích thành sự và hợp thức

Điều 1067

 Hội Đồng Giám Mục phải ấn định những quy tắc về việc khảo hạch các đôi bạn, cũng như về việc rao hôn phối và về những phương thế thích hợp khác để thực hiện những cuộc điều tra, những việc đó là cần thiết trước khi cử hành hôn nhân; một khi những quy tắc ấy đã được tuân giữ cẩn thận, cha sở có thể tiến hành việc chứng hôn.

Điều 1068

Trong cơn nguy tử, nếu không thể có những chứng cớ khác và nếu không có những dấu chỉ nghịch lại, thì chỉ cần đôi bạn cam kết, với lời thề nếu cần, rằng mình đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội và không mắc ngăn trở nào.

Điều 1069

Tất cả mọi tín hữu buộc phải trình báo cho cha sở hoặc cho Đấng Bản Quyền địa phương những ngăn trở mà họ biết được, trước khi hôn nhân được cử hành.

Điều 1070

Nếu người thực hiện việc điều tra không phải là cha sở có thẩm quyền chứng hôn, thì người này phải thông báo sớm hết sức cho cha sở biết kết quả việc điều tra ấy bằng một văn thư chính thức.

Điều 1071

§1. Trừ trường hợp cần thiết, nếu không có phép Đấng Bản Quyền địa phương, không ai được chứng hôn:

10 hôn hân của những người không có cư sở;

20 hôn nhân nào không thể được công nhận hay không thể được cử hành chiếu theo quy tắc của luật dân sự;

30 hôn nhân của những người mắc những nghĩa vụ tự nhiên phát sinh do cuộc phối hợp trước, đối với bên kia hoặc đối với con cái;

40 hôn nhân của người đã hiển nhiên chối bỏ đức tin Công giáo;

50 hôn nhân của người còn đang bị mắc vạ;

60 hôn nhân của người vị thành niên, khi cha mẹ không hay biết hoặc đã phản đối cách hợp lý;

70 hôn nhân cử hành qua người đại diện, được nói đến ở điều 1105.

§2. Đấng Bản quyền địa phương không được ban phép chứng hôn cho người đã hiển nhiên chối bỏ đức tin Công giáo, trừ khi đã giữ các quy tắc được nói đến ở điều 1125, với những thích nghi cần thiết.

Điều 1072

 Các vị chủ chăn các linh hồn phải liệu sao để ngăn cản việc cử hành hôn nhân của những người trẻ chưa tới tuổi, mà phong tục địa phương chấp nhận cho kết hôn.

CHƯƠNG 2
NGĂN TRỞ TIÊU HÔN NÓI CHUNG

Điều 1073

Ngăn trở tiêu hôn làm cho người ta không có năng cách để kết hôn thành sự.

Điều 1074

Ngăn trở được coi là công khai khi có thể chứng minh ở tòa ngoài; đối lại là ngăn trở kính đáo.

Điều 1075

§1. Việc chính thức tuyên bố khi nào luật Thiên Chúa cấm kết hôn hay tiêu hôn thuộc quyền bính tối cao của Giáo Hội mà thôi.

§2. Cũng chỉ có quyền bính tối cao ấy mới có quyền thiết lập những ngăn trở khác đối với những người đã được Rửa Tội.

Điều 1076

Tục lệ nào du nhập một ngăn trở mới hoặc nghịch với những ngăn trở hiện có đều bị phi bác.

Điều 1077

§1. Trong một trường hợp đặc biệt, Đấng Bản Quyền địa phương có thể cấm những người thuộc quyền mình đang ở bất cứ nơi nào và mọi người hiện đang cư ngụ trong địa hạt của mình không được kết hôn, nhưng chỉ trong một thời gian mà thôi, vì một lý do nghiêm trọng và bao lâu lý do ấy còn kéo dài.

§2. Chỉ có quyền bính tối cao của Giáo Hội mới có thể thêm một điều khoản tiêu hôn vào lệnh cấm ấy.

Điều 1078

§1. Đấng Bản Quyền địa phương có thể miễn chuẩn cho những người thuộc quyền mình đang ở bất cứ nơi nào và mọi người đang cư ngụ trong địa hạt của mình khỏi mọi ngăn trở thuộc luật Giáo Hội, trừ những ngăn trở mà Tông Tòa dành riêng cho mình quyền miễn chuẩn.

§2. Những ngăn trở mà Tông tòa dành riêng cho mình quyền miễn chuẩn là:

10 ngăn trở do các chức thánh, hoặc do lời khấn công vĩnh viễn giữ đức khiết tịnh trong một hội dòng thuộc luật giáo hoàng;

20 ngăn trở do tội ác được nói đến ở điều 1090.

§3. Không bao giờ được miễn chuẩn những ngăn trở do họ máu hang dọc hay họ máu hàng ngang bậc thứ hai.

Điều 1079

§1. Trong những trường hợp nguy tử khẩn cấp, Đấng Bản Quyền địa phương có thể miễn chuẩn cho những người thuộc quyền mình đang ở bất cứ nơi nào hoặc mọi người đang cư ngụ trong địa hạt của mình khỏi phải giữ thể thức cử hành hôn nhân, và khỏi mọi ngăn trở, cũng như từng ngăn trở công khai hay kín đáo thuộc luật Giáo Hội, trừ ngăn trở do thánh chức linh mục.

§2. Trong cùng các hoàn cảnh được nói đến ở §1, nhưng chỉ trong những trường hợp không thể đến với Đấng Bản Quyền địa phương được, thì cả cha sở hay thừa tác viên có chức thánh đã được ủy quyền hợp pháp, lẫn tư tế hay phó tế chứng hôn chiếu theo quy tắc của điều 1116 §2, đều có cùng một quyền miễn chuẩn ấy.

§3. Trong cơn nguy tử, cha giải tội có quyền miễn chuẩn những ngăn trở kín đáo ở tòa trong, vào lúc hoặc ngoài lúc ban bí tích Sám Hối.

§4. Trong trường hợp được nói đến ở §2, phải được coi là không thể đến với Đấng Bản Quyền địa phương được, nếu chỉ có thể liên lạc với ngài qua điện tín hoặc điện thoại.

Điều 1080

§1. Mỗi khi khám phá ra một ngăn trở vào lúc mọi sự đã sẵn sàng cho lễ cưới và không thể hoãn hôn lễ lại cho đến khi xin được phép chuẩn của nhà chức trách có thẩm quyền mà không có nguy cơ thiệt hại nặng nề có thể xảy ra, thì Đấng Bản Quyền địa phương có quyền miễn chuẩn tất cả mọi ngăn trở, trừ những ngăn trở được nói đến ở điều 1078 §2, 10, và nếu ngăn trở còn kín đáo, thì tất cả những vị được nói đến ở điều 1079 §§2-3 cũng có quyền ấy, nhưng phải giữ những điều kiện mà điều này đòi buộc.

§2. Quyền này cũng có giá trị để thành sự hóa hôn nhân, nếu trì hoãn sẽ có nguy cơ như trên và nếu không đủ thời gian để nại đến Tông Tòa hoặc Đấng Bản Quyền địa phương, đối với những ngăn trở mà ngài có quyền miễn chuẩn được.

 Điều 1081

Cha sở hoặc tư tế hay phó tế được nói đến ở điều 1079 §2 phải lập tức thông báo cho Đấng Bản Quyền địa phương biết phép chuẩn đã được ban ở tòa ngoài và phải ghi phép chuẩn ấy vào sổ hôn phối.

Điều 1082

Trừ khi phúc chiếu của Tòa Ân Giải quy định cách khác, phép chuẩn một ngăn trở kín đã được ban ở tòa trong nhưng ngoài bí tích, phải được ghi trong một cuốn sổ được lưu giữ cẩn thận tại văn khố mật của tòa giám mục, và nếu sau này ngăn trở thành công khai, thì không cần phải xin một phép chuẩn nào khác ở tòa ngoài.

CHƯƠNG 3
NGĂN TRỞ TIÊU HÔN NÓI RIÊNG

Điều 1083

§1. Người nam chưa trọn mười sáu tuổi, cũng như người nữ chưa trọn mười bốn tuổi, không thể kết hôn thành sự.

§2. Hội Đồng Giám Mục có trọn quyền ấn định tuổi cao hơn để kết hôn cách hợp thức.

Điều 1084

§1. Bất lực giao hợp có trước khi kết hôn và vĩnh viễn, hoặc phía bên nam hoặc phía bên nữ, hoặc tuyệt đối hoặc tương đối, tự bản chất hủy tiêu hôn nhân.

§2. Nếu hồ nghi có ngăn trở bất lực, dù hồ nghi về luật hay về sự kiện, thì không được ngăn cản hôn nhân thì cũng không được tuyên bố là hôn nhân bất thành, bao lâu còn hồ nghi.

§3. Tình trạng son sẻ không ngăn cản và cũng không hủy tiêu hôn nhân, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1098.

Điều 1085

§1. Người đang bị ràng buộc bởi dây hôn nhân trước, dù chưa hòa hợp, thì kết hôn cũng bất thành.

§2. Dù hôn nhân trước bất thành hoặc được tháo gỡ vì bất cứ lý do nào, thì không vì đó mà được phép kết hôn lần nữa, trước khi thấy rõ cách hợp thức và chắc chắn rằng hôn nhân trước đã bất thành hoặc đã được tháo gỡ.

Điều 1086

§1. Hôn nhân giữa một người đã được Rửa Tội trong Giáo Hội Công giáo hoặc đã được nhận vào Giáo Hội ấy với một người không được Rửa Tội, thì bất thành.

§2. Không được miễn chuẩn ngăn trở này, trừ khi đã hội đủ các điều kiện được nói đến ở điều 1125 và 1126.

§3. Nếu vào lúc kết hôn, một bên vốn được coi là đã được Rửa Tội, hoặc hồ nghi về việc Rửa Tội của người ấy, thì chiếu theo quy tắc của điều 1060, hôn nhân phải được suy đoán là thành sự, cho đến khi chứng minh được cách chắc chắn là một bên đã được Rửa Tội, còn bên kia thì không.

Điều 1087

Những người đã lãnh nhận chức thánh kết hôn cũng bất thành.

Điều 1088

Những người bị ràng buộc bởi lời khấn công vĩnh viễn giữ đức khiết tịnh trong một hội dòng kết hôn cũng bất thành.

Điều 1089

Không thể có hôn nhân giữa một người nam và một người nữ bị bắt cóc hay ít là bị giam giữ với chủ ý kết hôn với người nữ ấy, trừ khi người nữ tự ý lựa chọn cuộc hôn nhân ấy, sau khi đã được tách rời khỏi người bắt cóc và được đặt ở một nơi an toàn và tự do.

Điều 1090

§1. Kẻ chủ ý kết hôn với một người nào đó mà gây ra cái chết cho người phối ngẫu của người ấy hay của mình, thì việc kết hôn này bất thành.

§2. Những người đã cộng tác với nhau cách thể lý hay luân lý để giết người phối ngẫu của họ, dù kết hôn với nhau cũng bất thành.

Điều 1091

§1. Những người có họ máu hàng dọc, từ dưới lên và từ trên xuống, hoặc pháp lý hoặc tự nhên, kết hôn với nhau bất thành.

§2. Trong họ máu hàng ngang, hôn nhân bất thành cho đến hết bậc thứ bốn.

§3. Ngăn trở họ máu không nhân cấp.

§4. không bao giờ cho phép kết hôn, nếu còn hồ nghi hai bên có họ máu với nhau ở bất cứ bậc nào thuộc hàng dọc hay ở bậc thứ hai thuộc hàng ngang.

Điều 1092

Những người có họ kết bạn ở bất cứ bậc nào thuộc hàng dọc kết hôn với nhau bất thành.

Điều 1093

Ngăn trở công hạnh phát sinh từ một cuộc hôn nhân bất thành sau khi đã sống chung do tư hôn công khai hay hiển nhên; ngăn trở này tiêu hôn ở bậc thứ nhất thuộc hàng dọc giữa người chồng với những người nữ có họ máu với người vợ, và ngược lại.

Điều 1094

 Những người có họ với nhau do việc nhận con nuôi được pháp luật công nhận kết hôn với nhau bất thành ở hàng dọc hoặc ở bậc thứ hai thuộc hàng ngang.

CHƯƠNG 4
SỰ ƯNG THUẬN HÔN NHÂN

Điều 1095

Không có khả năng kết hôn:

10 những người không sử dụng đủ trí khôn;

20 những người thiếu nghiêm trọng óc phán đoán về quyền lợi và nghĩa vụ chính yếu của việc trao ban và lãnh nhận nhau trong hôn nhân;

30 những người không thể đảm nhận những nghĩa vụ chính yếu của hôn nhân vì những nguyên nhân thuộc bản chất tâm lý.

Điều 1096

§1. Để có thể có sự ưng thuận hôn nhân, hai người kết ước ít nhất phải biết hôn nhân là một sự hiệp thông vĩnh viễn giữa môt người nam và một người nữ, nhắm đến việc sinh sản con cái do một sự cộng tác nào đó thuộc phạm vi phái tính.

§2. Sau tuổi dậy thì, phải suy đoán là có sự hiểu biết trên đây.

Điều 1097

§1. Sự lầm lẫn về nhân thân làm cho hôn nhân bất thành.

§2. Sự lầm lẫn về tư cách của một người, ngay cả khi tư cách ấy là nguyên nhân của khế ước, không làm cho hôn nhân bất thành, trừ khi tư cách ấy được nhắm đến cách trực tiếp và chủ yếu.

Điều 1098

Người kết hôn bị lừa gạt về một tư cách nào đó của phía bên kia, với chủ ý để mình ưng thuận, và nếu tư cách ấy tự bản chất có thể làm xáo trộn nghiêm trọng sự hiệp thông vợ chồng, thì hôn nhân bất thành.

Điều 1099

Sự lầm lẫn về tính đơn nhất hay tính bất khả phân ly hoặc về phẩm giá bí tích của hôn nhân không làm cho sự ưng thuận hôn nhân bị hà tỳ, miễn là sự lầm lẫn ấy không chi phối ý chí.

Điều 1100

Việc biết hay tưởng rằng hôn nhân vô hiệu không nhất thiết loại trừ sự ưng thuận của hôn nhân.

Điều 1101

§1. Sự ưng thuận trong lòng được suy đoán là phù hợp với những lời nói hay những dấu chỉ được sử dụng trong khi cử hành hôn nhân.

§2. Nếu một bên hay cả hai bên, bằng một hành vi tích cực của ý chí, loại trừ chính hôn nhân, hoặc một yếu tố chính yếu nào, hoặc một đặc tính chính yếu nào của hôn nhân, thì họ kết hôn với nhau bất thành.

Điều 1102

§1. Kết hôn với điều kiện về tương lai thì bất thành.

§2. Kết hôn với điều kiện về quá khứ hay hiện tại có thành sự hay không là tùy theo nội dung của điều kiện ấy có hay không.

§3. Tuy nhiên, điều kiện được nói đến ở §2 không thể được đặt ra cách hợp pháp, trừ khi Đấng Bản Quyền địa phương cho phép bằng văn bản.

Điều 1103

Hôn nhân bất thành, nếu vì bạo lực hay vì sợ hãi nghiêm trọng từ bên ngoài, mặc dầu không cố tình gây nên, người ta buộc phải lựa chọn hôn nhân để tự giải thoát.

Điều 1104

§1. Để kết hôn thành sự, hai bên kết ước cần phải có mặt cùng một lúc, hoặc đích thân, hoặc qua người đại diện.

§2. Hai vợ chồng phải biểu lộ sự ưng thuận hôn nhân bằng lời nói, nhưng nếu không thể nói được, thì bằng những dấu hiệu tương đương.

Điều 1105

§1. Để việc kết hôn qua người đại diện được thành sự thì buộc:

10 phải có một sự ủy nhiệm đặc biệt để kết hôn với một người nhất định;

20 người đại diện phải phải được chính người ủy nhiệm chỉ định, và chính họ đích thân chu toàn phận sự.

§2. Để có hiệu lực, giấy ủy nhiệm phải được người ủy nhiệm ký tên, và ngoài ra còn phải có chữ ký của cha sở hay của Đấng Bản Quyền địa phương tại nơi làm giấy ủy nhiệm, hoặc của một linh mục được một trong hai người ủy nhiệm, hoặc của ít nhất là hai nhân chứng, hoặc phải được soạn dựa vào một văn bản chính thức chiếu theo quy tắc của luật dân sự.

§3. Nếu người ủy nhiệm không biết viết, thì phải ghi chú điều ấy vào chính giấy ủy nhiệm và phải có thêm một nhân chứng khác, chính nhân chứng này cũng phải ký tên vào giấy ủy nhiệm; bằng không, giấy ủy nhiệm sẽ vô giá trị.

§4. Nếu người ủy nhiệm thu hồi giấy ủy nhiệm hoặc bị mất trí trước khi người đại diện kết hôn nhân danh người ủy nhiệm, thì hôn nhân bất thành, ngay cả khi người đại diện hay người kết ước kia không biết những việc đó.

Điều 1106

Có thể kết hôn qua thông dịch viên; tuy nhiên, cha sở không được chứng hôn, trừ khi biết rõ lòng trung thực của thông dịch viên.

Điều 1107

Ngay cả khi kết hôn bất thành vì có một ngăn trở hay vì thiếu thể thức, sự ưng thuận đã bày tỏ trước đây được suy đoán là vẫn còn, cho đến khi biết rõ là sự ưng thuận đã bi thu hồi lại.

CHƯƠNG 5
NGHI THỨC CỬ HÀNH HÔN NHÂN

Điều 1108

§1. Hôn nhân chỉ thành sự khi được kết ước trước mặt vị chứng hôn, là Đấng Bản Quyền địa phương hay cha sở, hoặc một tư tế hay một phó tế đã được một rong hai vị trên ủy quyền, và trước mặt hai nhân chứng, nhưng phải theo những quy tắc được quy định trong những điều khoản sau đây, và miễn là vẫn giữ nguyên những biệt lệ được nói đến ở các điều 144, 1112 §1, 1116 và 1127 §§1-2.

§2. Vị chứng hôn chỉ được hiểu là người hiện diện để yêu cầu hai bên kết ước biểu lộ sự ưng thuận và để nhân danh Giáo Hội chấp nhận sự biểu lộ ấy.

Điều 1109

Chiếu theo chức vụ, Đấng Bản Quyền địa phương và cha sở chứng hôn thành sự trong giới hạn địa hạt của mình, chẳng những cho những người thuộc quyền, mà còn cho cả những người không thuộc quyền, miễn là một trong hai người thuộc lễ để Latinh, trừ khi các vị ấy bị vạ tuyệt thông, hoặc vạ cấm chế, hoặc bị huyền chức do án lệnh hay do sắc lệnh, hoặc đã bị tuyên bố như vậy.

Điều 1110

Đấng Bản Quyền và cha sở tòng nhân, chiếu theo chức vụ, chỉ chứng hôn thành sự cho những đôi nào, mà ít ra một người kết ước là người thuộc quyền mình, trong giới hạn thẩm quyền của mình.

Điều 1111

§1. Bao lâu còn chu toàn giáo vụ của mình cách hữu hiệu, Đấng Bản Quyền địa phương và cha sở có thể ủy nhiệm năng quyền, kể cả năng quyền tổng quát, cho các tư tế và phó tế, để chứng hôn trong giới hạn của địa hạt mình.

§2. Để được hữu hiệu, việc ủy nhiệm năng quyền chứng hôn phải được minh nhiên ban cho những người nhất định; nếu là một sự ủy quyền riêng biệt, thì có giá trị đối với một hôn nhân nhất định, còn nếu là một sự ủy nhiệm tổng quát, thì phải ban bằng văn bản.

Điều 1112

§1. Ở đâu thiếu tư tế và phó tế, Giám Mục giáo phận có thể ủy quyền cho giáo dân để chứng hôn, sau khi được Hội Đồng Giám Mục chấp thuận và được Tòa Thánh ban phép.

§2. Phải chọn một người giáo dân có khả năng xứng hợp để có thể đào tạo các đôi vợ chồng tương lai và có đủ tư cách cử hành phụng vụ hôn nhân cách đúng phép.

Điều 1113

Trước khi ban ủy quyền riêng biệt, phải chu toàn tất cả những gì luật đã ấn định để chứng minh tình trạng thong dong của các bên.

Điều 1114

 Người chứng hôn hành động bất hợp pháp, nếu họ không có sự xác tín về tình trạng thong dong của những người kết ước chiếu theo quy định của luật cũng như về phép của cha sở, nếu có thể, mỗi khi họ chứng hôn do một sự ủy quyền tổng quát.

Điều 1115

Hôn nhân phải được cử hành tại giáo xứ mà một trong hai người kết ước có cư sở hoặc bán cư sở hay đã cư ngụ một tháng, hoặc nếu là những người không có cư sở, phải được cử hành tại giáo xứ mà họ đang cư ngụ; hôn nhân có thể được cử hành tại nơi khác, khi có phép của Đấng Bản Quyền riêng hay của cha sở riêng.

Điều 1116

§1. Nếu không thể có hay không thể đến với một vị chứng hôn có thẩm quyền chiếu theo quy tắc của luật, mà không gặp bất tiện nặng, thì những người nào muốn kết hôn thật sự, có thể kết hôn cách thành sự và hợp pháp trước mặt các nhân chứng mà thôi:

10 trong trường hợp nguy tử;

20 ngoài trường hợp nguy tử, miễn là dự đoán theo sự khôn ngoan rằng tình trạng ấy sẽ kéo dài suốt tháng.

§2. Trong cả hai trường hợp, nếu có một tư tế hay một phó tế khác có thể hiện diện, thì phải mời vị ấy đến chứng kiến buổi cử hành hôn lễ cùng với các nhân chứng, mặt dù hôn nhân trước mặt các nhân chứng mà thôi vẫn thành sự.

Điều 1117

Phải tuân giữ thể thức ấn định ở trên, nếu ít là một trong hai bên kết ước đã được Rửa Tội trong Giáo Hội Công giáo hay đã được nhận vào Giáo Hội Công giáo, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định ở điều 1127 §2.

Điều 1118

§1. Hôn nhân giữa hai người Công giáo hoặc giữa một người Công giáo và một người đã được Rửa Tội ngoài Giáo Hội Công giáo phải được cử hành trong nhà thờ giáo xứ, hôn nhân này có thể cử hành trong một nhà thờ khác hoặc trong một nhà nguyện, nếu có phép của Đấng Bản Quyền địa phương hay của cha sở.

§2. Đấng Bản Quyền địa phương có thể cho phép cử hành hôn nhân tại một nơi thích hợp khác.

§3. Hôn nhân giữa một người Công giáo và một người không được Rửa Tội có thể được cử hành trong nhà thờ hay tại một nơi thích hợp khác.

Điều 1119

Ngoài trường hợp cần thiết, khi cử hành hôn nhân phải tuân giữ các nghi lễ đã được quy định trong các sách phụng vụ do Giáo Hội phê chuẩn, hoặc đã được du nhập do các tục lệ hợp pháp.

Điều 1120

Hội Đồng Giám Mục có thể soạn thảo một nghi lễ hôn nhân riêng, nghi lễ này phải được Tông Tòa chuẩn nhận và phải lưu ý đến những tục lệ địa phương và dân gian đã được thích nghi với tinh thần Kitô giáo, nhưng vẫn giữ nguyên luật buộc vị chứng hôn hiện diện phải yêu cầu những người kết ước biểu lộ sự ưng thuận và phải chấp nhận sự biểu lộ ấy.

Điều 1121

§1. Một khi hôn nhân đã được cử hành, cha sở nơi cử hành hôn nhân hay vị thay thế ngài, cho dù không ai là người chứng hôn, phải sớm hết sức ghi vào sổ hôn nhân tên của đôi vợ chồng, của vị chứng hôn và của các nhân chứng, nơi và ngày cử hành hôn nhân, theo thể thức do Hội Đồng Giám Mục hay Giám Mục giáo phận quy định.

§2. Mỗi khi hôn nhân được kết ước chiếu theo quy tắc của điều 1116, tư tế hay phó tế, nếu đã có mặt trong hôn lễ, hoặc nếu không thì các nhân chứng, buộc phải liên đới với những người kết ước để thông báo sớm hết sức cho cha sở hoặc Đấng Bản Quyền địa phương biết hôn nhân đã được kết ước.

§3. Về hôn nhân đã được kết ước với phép chuẩn khỏi giữ thể thức giáo luật, Đấng Bản Quyền địa phương đã ban phép chuẩn phải liệu sao để phép chuẩn và việc cử hành được ghi vào sổ hôn nhân của tòa giám mục cũng như của giáo xứ riêng phía bên Công giáo mà cha sở đã điều tra về tình trạng thong dong. Người phối ngẫu Công giáo buộc phải thông báo sớm hết sức cho Đấng Bản Quyền và cha sở biết là hôn nhân đã được cử hành, cũng phải chỉ rõ nơi cử hành và thể thức công khai đã tuân giữ.

Điều 1122

§1. Việc kết ước hôn nhân cũng phải được ghi chú vào sổ Rửa Tội, trong đó đã ghi việc lãnh nhận bí tích Rửa Tội của hai vợ chồng.

§2. Nếu một người phối ngẫu không kết ước hôn nhân trong giáo xứ mình đã được Rửa Tội, thì cha sở nơi cử hành hôn lễ phải thông báo sớm hết sức cho cha sở nơi đương sự đã được Rửa Tội biết là hôn nhân đã được ký kết.

Điều 1123

Mỗi khi hôn nhân hoặc được thành sự hóa ở tòa ngoài, hoặc được tuyên bố là bất thành, hoặc được tháo gỡ cách hợp thức vì một lý do khác ngoài lý do tử vong, thì phải thông báo cho cha sở nơi cử hành hôn nhân biết điều ấy, để ghi chú đầy đủ vào sổ hôn phối và sổ Rửa Tội.

CHƯƠNG 6
HÔN NHÂN HỖN HỢP

Điều 1124

Nếu không có phép minh nhiên của thẩm quyền, cấm kết hôn giữa hai người đã được Rửa Tội, mà một người đã được Rửa Tội trong Giáo Hội Công giáo hoặc đã được nhận vào Giáo Hội Công giáo sau khi được Rửa Tội, còn người kia đã gia nhập vào một Giáo Hội hoặc một cộng đoàn Giáo Hội không thông hiệp trọn vẹn với Giáo Hội Công giáo.

Điều 1125

Đấng Bản Quyền địa phương có thể ban phép trên đây, nếu có một lý do chính đáng và hợp lý, nhưng không được ban phép ấy, nếu không hội đủ điều kiện sau đây:

10 bên Công giáo phải tuyên bố mình sẵn sàng tránh mọi nguy cơ mất đức tin và thành thật cam kết sẽ làm hết sức để tất cả con cái được Rửa Tội và được giáo dục trong Giáo Hội Công giáo;

20 phải kịp thời thông báo thế nào cho bên không Công giáo biết những điều bên Công giáo phải cam kết, để họ ý thức thật sự về lời cam kết và nghĩa vụ của bên Công giáo;

30 cả hai bên phải được giáo huấn về những mục đích và đặc tính chính yếu của hôn nhân mà không bên nào được phép loại bỏ.

Điều 1126

Hội Đồng Giám Mục ấn định thể thức làm tờ tuyên bố và cam kết mà luật luôn đòi buộc, cũng như quy định thể thức thực hiện ở tòa ngoài và thể thức thông báo cho bên không Công giáo biết điều ấy.

Điều 1127

§1. Về thể thức được áp dụng trong hôn nhân hỗn hợp, phải tuân giữ những quy định của điều 1108; tuy nhiên, nếu bên Công giáo kết hôn với bên không Công giáo thuộc lễ điển Đông Phương, thì thể thức cử hành theo giáo luật phải được tuân giữ để hôn nhân được hợp thức mà thôi; nhưng để hôn nhân được thành sự, thì buộc phải có sự can thiệp của thừa tác viên có chức thánh, miễn là vẫn giữ những luật khác phải giữ.

§2. Nếu có những khó khăn nghiêm trọng ngăn cản việc tuân giữ thể thức giáo luật, Đấng Bản Quyền địa phương bên Công giáo có quyền miễn chuẩn khỏi giữ thể thức ấy trong từng trường hợp, nhưng phải tham khảo ý kiến của Đấng Bản Quyền địa phương tại nơi cử hành hôn nhân và phải giữ một thể thức cử hành công khai nào đó, để hôn nhân được thành sự; việc ấn định những quy tắc để ban phép chuẩn nói trên một cách đồng nhất thuộc Hội Đồng Giám Mục.

§3. Dù trước hay sau khi cử hành hôn nhân theo giáo luật chiếu theo quy tắc của §1, cấm cử hành hôn nhân theo nghi thức tôn giáo một lần nữa để bày tỏ hay lặp lại sự ưng thuận hôn nhân; cũng không được cử hành nghi thức tôn giáo, trong đó vị chứng hôn Công giáo và thừa tác viên không Công giáo cùng yêu cầu các bên bày tỏ sự ưng thuận, mỗi vị cử hành theo nghi thức của mình.

Điều 1128

Cá Đấng Bản Quyền địa phương và những vị chủ chăn các linh hồn khác phải liệu sao để người phối ngẫu Công giáo và con cái sinh ra do hôn nhân hỗn hợp không thiếu sự trợ giúp về phương diện thiêng liêng, để họ chu toàn nghĩa vụ của mình, và các ngài phải giúp đôi phối ngẫu hiệp nhất với nhau trong đời sống vợ chồng và gia đình.

Điều 1129

Các quy định của những điều 1127 và 1128 cũng được áp dụng cho những hôn nhân mắc ngăn trở dị giáo được nói đến ở điều 1086 §1.

CHƯƠNG 7
CỬ HÀNH HÔN NHÂN CÁCH KÍN ĐÁO

Điều 1130

Vì một lý do nghiêm trọng và khẩn cấp, Đấng Bản Quyền địa phương có thể cho phép cử hành hôn nhân cách kín đáo.

Điều 1131

Phép cho cử hành hôn nhân cách kín đáo đòi buộc:

10 phải kín đáo thực hiện việc điều tra trước hôn nhân;

20 Đấng Bản Quyền địa phương, vị chứng hôn, các nhân chứng, đôi vợ chồng, phải giữ bí mật về hôn nhân đã được cử hành.

Điều 1132

Đấng Bản Quyền địa phương hết nghĩa vụ giữ bí mật được nói đến ở điều 1131, 20, nếu việc giữ bí mật có nguy cơ sinh ra gương xấu nghiêm trọng, hoặc làm tổn thương sự thánh thiện của hôn nhân cách nặng nề, và phải thông báo cho đôi bạn biết điều đó trước khi cử hành hôn nhân.

Điều 1133

Hôn nhân đã được cử hành cách bí mật phải được ghi trong sổ riêng mà thôi và sổ này phải được lưu giữ trong văn khố mật của tòa giám mục.

CHƯƠNG 8
HIỆU QUẢ HÔN NHÂN

Điều 1134

Từ cuộc hôn nhân thành sự giữa những người phối ngẫu nẩy sinh một mối dây liên kết vĩnh viễn và độc hữu tự bản chất; ngoài ra, trong hôn nhân Kitô giáo, những người phối ngẫu được củng cố và như được thánh hiến do một bí tích đặc biệt để chu toàn nghĩa vụ và nâng cao phẩm giá bậc sống của mình.

Điều 1135

Mỗi người phối ngẫu đều có nghĩa vụ và quyền lợi bình đẳng trong tất cả những gì liên quan đến sự hiệp thông vợ chồng.

Điều 1136

Các bậc cha mẹ có nghĩa vụ rất nặng nề và có quyền ưu tiên chăm lo giáo dục con cái hết sức mình vừa về phương diện thể lý, xã hội và văn hóa, vừa về phương diện luân lý và tôn giáo.

Điều 1137

Con cái được thụ thai hoặc được sinh ra do hôn nhân thành sự hay giả định đều là con cái hợp thức.

Điều 1138

§1. Người cha là người được hôn nhân hợp pháp chỉ định, trừ khi có những luận chứng hiển nhiên chứng minh ngược lại.

§2. Những đứa con được sinh ra sau khi cử hành hôn nhân nhất là một trăm tám mươi ngày, hoặc trong vòng ba trăm ngày, kể từ khi đời sống vợ chồng tan vỡ, đều được coi là con cái hợp thức.

Điều 1139

Những đứa con bất hợp pháp được hợp thức hóa do hôn nhân sau của cha mẹ, dù là hôn nhân thành sự hay hôn nhân giả định, hoặc do phúc chiếu của Tòa Thánh.

Điều 1140

Về hiệu quả theo pháp luật, con cái đã được hợp thức hóa cũng ngang hàng với con cái hợp thức trong mọi sự, trừ khi luật đã minh nhiên quy định cách khác.

CHƯƠNG 9
SỰ LY THÂN CỦA VỢ CHỒNG

TIẾT 1
THÁO GỠ DÂY HÔN NHÂN

Điều 1141

Hôn nhân thành nhận và hòa hợp không thể được tháo gỡ do bất cứ quyền bính nhân loại nào và vì bất cứ lý do nào, trừ lý do tử vong.

Điều 1142

Hôn nhân bất hoàn hợp giữa người đã được Rửa Tội hay giữa một người đã được Rửa Tội và một không được Rửa Tội, có thể được Đức Giáo Hoàng Rôma tháo gỡ vì một lý do chính đáng, do lời thỉnh cầu của cả hai người hoặc của một người mà thôi, mặc dầu người kia không bằng lòng.

Điều 1143

§1. Hôn nhân giữa hai người không chịu phép Rửa Tội được tháo gỡ nhờ đặc ân thánh Phaolô vì lợi ích đức tin của người đã được Rửa Tội do chính sự kiện người ấy tái hôn, miễn là người không được Rửa Tội chia tay người ấy.

§2. Người không chịu phép Rửa Tội được kể là chia tay, nếu không muốn sống chung với người đã được Rửa Tội hay không muốn sống chung hòa thuận mà không xúc phạm đến Đấng Tạo Hóa, trừ trường hợp sau khi chịu phép Rửa Tội, người được Rửa Tội đã gây ra nguyên nhân chính đáng để người kia chia tay.

Điều 1144

§1. Để người được Rửa Tội tái hôn thành sự, thì luôn luôn phải chất vấn người không chịu phép Rửa tội để biết:

10 người này có muốn được Rửa Tội hay không;

20 ít là người này có muốn sống chung hòa thuận với người đã được Rửa Tội mà không xúc phạm đến Đấng Tạo Hóa hay không.

§2. Việc chất vấn này phải được thực hiện sau khi đương sự đã được Rửa Tội, nhưng vì một lý do quan trọng, Đấng bản Quyền địa phương có thể cho phép thực hiện việc chất vấn ấy trước khi đương sự được Rửa Tội và cũng có thể miễn chuẩn khỏi phải chất vấn hoặc trước hoặc sau khi lãnh nhận bí tích Rửa Tội, miễn sao thấy rõ là không thể thực hiện được việc chất vấn ấy hoặc có chất vấn cũng vô ích, qua một thủ tục ít là đơn giản và ngoài tòa án.

Điều 1145

§1. Theo nguyên tắc chung, quyền bính của Đấng Bản Quyền địa phương của bên đã trở lại phải thực hiện việc chất vấn ấy, Đấng Bản quyền này phải cho người phối ngẫu kia một thời hạn để trả lời nếu họ xin, nhưng phải cho họ biết rằng khi thời gian đó trôi qua vô ích, thì sự im lặng của họ được coi là một lời từ chối.

§2. Việc chất vấn, ngay cả khi chính bên trở lại làm riêng tư, cũng có giá trị và hợp pháp nữa, nếu không thể tuân giữ thể thức đã được quy định ở trên.

§3. Trong cả hai trường hợp, sự kiện chất vấn và kết quả của việc chất vấn ấy phải được xác minh cách hợp thức ở tòa ngoài.

Điều 1146

Người đã được Rửa Tội có quyền tái hôn với người Công giáo:

10 nếu bên kia đã trả lời từ chối khi được chất vấn, hoặc nếu việc chất vấn đã được bỏ qua cách hợp thức;

20 nếu bên không chịu phép Rửa Tội, dù đã được chất vấn hay không, ban đầu vẫn sống chung hòa thuận mà không xúc phạm đến Đấng Tạo Hóa, sau đó đã chia tay mà không có một lý do chính đáng nào, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của các điều 1144 và 1145.

Điều 1147

Tuy nhiên, vì một lý do nghiêm trọng, Đấng Bản Quyền địa phương có thể cho phép bên đã được Rửa Tội dùng đặc ân thánh Phaolô để kết hôn với bên không Công giáo đã được Rửa Tội hay không, nhưng cũng phải tuân giữ những điều mà luật đã quy định về hôn nhân hỗn hợp.

Điều 1148

§1. Một người đàn ông chưa chịu phép Rửa Tội đồng thời có nhiều vợ không chịu phép Rửa Tội, sau khi đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội trong Giáo Hội Công giáo, nếu khó sống với người vợ cả, thì có thể giữ lại một trong số những người vợ ấy, sau khi đã bỏ những người vợ khác. Điều trên đây cũng có giá trị đối với những người phụ nữ chưa chưa chịu phép Rửa Tội đồng thời có nhiều chồng không chịu phép Rửa Tội.

§2. Trong trường hợp được nói đến ở §1, sau khi đã lãnh nhận bí tich Rửa Tội, hôn nhân phải được cử hành theo thể thức hợp thức, và nếu cần thì cũng phải giữ những quy định về hôn nhân hỗn hợp, cũng như những quy định khác mà luật buộc phải giữ.

§3. Lưu ý đến hoàn cảnh luân lý, xã hội, kinh tế của địa phương và của con người, Đấng Bản Quyền địa phương phải liệu sao để bảo đảm đủ cho những nhu cầu của người vợ cả và những người vợ khác đã bị bỏ, theo quy tắc của đức công bình, của đức bác ái Kitô giáo và của sự hợp tình hợp lý tự nhiên.

Điều 1149

Một người chưa được Rửa Tội, sau khi đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội trong Giáo Hội Công giáo, do bị tù đày hay bị bách hại, nên không thể tái lập đời sống chung với người phối ngẫu không chịu phép Rửa Tội, thì có thể tái hôn, dù trong thời gian đó người phối ngẫu ấy đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1141.

Điều 1150

Trong trường hợp hồ nghi, đặc ân đức tin được luật ưu đãi.

TIẾT 2
LY THÂN MÀ DÂY HÔN NHÂN VẪN CÒN

Điều 1151

Những người phối ngẫu có bổn phận và có quyền bảo vệ đời sống chung vợ chồng, trừ khi được miễn vì một lý do hợp pháp.

Điều 1152

§1. Mặc dầu thiết tha khuyên nhủ người phối ngẫu vì đức bác ái Kitô giáo và vì ích ợi của gia đình, đừng từ chối tha thứ cho bên ngoại tình và đừng cắt đứt đời sống chung vợ chồng, tuy nhiên, nếu họ đã không minh nhiên hay mặc nhiên tha thứ lỗi lầm cho bên kia, thì họ có quyền cắt đứt đời sống vợ chồng, trừ khi họ đã chấp nhận việc ngoại tình, hoặc họ đã gây ra nguyên nhân của tội ngoại tình, hoặc họ cũng đã phạm tội ngoại tình.

§2. Có sự tha thứ mặc nhiên, nếu sau khi biết có tội ngoại tình, người phối ngẫu vô tội vẫn tự nguyện sống chung đời vợ chồng với người phối ngẫu kia; nhưng sự tha thứ này được suy đoán, nếu người phối ngẫu vô tội vẫn sống chung vợ chồng trong sáu tháng và không nại đến nhà chức trách Giáo Hội hay chính quyền nhân sự.

§3. Nếu người phồi ngẫu vô tội tự ý cắt đứt đời sống chung vợ chồng, thì trong vòng sáu tháng phải đưa vụ án ly thân ra trước nhà chức trách Giáo Hội; sau khi đã xem xét tất cả mọi hoàn cảnh, nhà chức trách Giáo Hội phải thẩm định xem có thể làm cho người phối ngẫu vô tội tha thứ lỗi lầm và không kéo dài mãi cảnh ly thân hay không.

Điều 1153

§1. Nếu một trong hai người phối ngẫu gây nguy hiểm nghiêm trọng về tinh thần hay thể xác cho bên kia hoặc cho con cái, hay nếu bằng cách nào khác làm cho đời sống chung trở nên nặng nề, thì bên nọ tạo cho bên kia một lý do hợp pháp để ly thân, hoặc là do một sắc lệnh của Đấng Bản Quyền địa phương, hoặc là do quyền riêng của mình, nếu có nguy cơ phải chờ đợi.

§2. Trong tất cả mọi trường hợp, khi hết lý do ly thân thì phải lập lại cuộc sống chung vợ chồng, trừ khi nhà chức trách Giáo Hội đã ấn định cách khác.

Điều 1154

Một khi đã ly thân, những người phối ngẫu luôn luôn phải lo liệu cách thích hợp về việc chu cấp và giáo dục buộc phải có đối với con cái.

Điều 1155

Người phối ngẫu vô tội vẫn có thể chấp nhận cho người phối ngẫu kia trở về cuộc sống chung vợ chồng, và đó là điều đáng khen; trong trường hợp này, đương sự khước từ quyền ly thân.

CHƯƠNG 10
THÀNH SỰ HÓA HÔN NHÂN

TIẾT 1
THÀNH SỰ HÓA ĐƠN THUẦN

Điều 1156

§1. Để thành sự hóa một hôn nhân bất thành do một ngăn trở tiêu hôn, thì buộc ngăn trở phải chấm dứt hoặc được miễn chuẩn, và ít là bên biết có ngăn trở phải lặp lại sự ưng thuận.

§2. Luật Giáo Hội buộc phải lặp lại sự ưng thuận ấy để việc thành sự hóa có hiệu lực, mặc dầu lúc đầu cả hai bên đã biểu lộ sự ưng thuận và sau đó đã không rút lại sự ưng thuận.

Điều 1157

 Việc lặp lại sự ưng thuận, phải là một hành vi mới của ý muốn kết hôn, mà bên lặp lại sự ưng thuận ấy biết hoặc quan niệm rằng hôn nhân đã bất thành ngay từ đầu.

Điều 1158

§1. Nếu ngăn trở là công khai, cả hai bên đều phải lặp lại sự ưng thuận theo thể thức giáo luật, miễn là vẫn giữ giữ nguyên những quy định của điều 1127 §2.

Điều 1159

§1. Hôn nhân bất thành do thiếu sự ưng thuận sẽ được thành sự hóa, nếu bên trước kia đã không ưng thuận bây giờ lại ưng thuận, miễn là bên kia vẫn còn duy trì sự ưng thuận đã được biểu lộ.

§2. Nếu không thể chứng minh được là thiếu sự ưng thuận, thì chỉ cần bên trước kia đã không ưng thuận bày tỏ sự ưng thuận cách riêng tư và kín đáo.

§3. Nếu có thể chứng minh được là thiếu sự ưng thuận, thì cần phải biểu lộ sự ưng thuận theo thể thức giáo luật.

Điều 1160

Để được thành sự hóa, hôn nhân bất thành do thiếu thể thức phải được kết ước lại theo thể thức giáo luật, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1127 §2.

TIẾT 2
ĐIỀU TRỊ TẠI CĂN

Điều 1161

§1. Điều trị tại căn một hôn nhân bất thành là việc thành sự hóa hôn nhân ấy mà không buộc phải lập lại sự ưng thuận, do nhà chức trách có thẩm quyền ban, bao hàm việc miễn chuẩn một ngăn trở, nếu có, và thể thức giáo luật, nếu đã không được tuân giữ, cũng như sự hồi tố của những hiệu quả giáo luật.

§2. Việc điều trị tại căn được thực hiện từ lúc ban ân huệ; nhưng việc hồi tố được hiểu là có hiệu lực từ lúc hôn nhân được cử hành, trừ khi luật đã minh nhiên dự liệu cách khác.

§3. Không được ban việc điều trị tại căn, nếu không biết chắc là đôi bên muốn duy trì đời sống vợ chồng.

Điều 1162

§1. Hôn nhân không thể được điều trị tại căn, nếu thiếu sự ưng thuận của cả hai bên hay của cả hai bên hay của một trong hai bên, hoặc là thiếu sự ưng thuận ngay từ đầu, hoặc là lúc đầu thì ưng thuận nhưng về sau đã rút lại.

§2. Tuy nhiên, nếu lúc đầu thiếu sự ưng thuận, nhưng về sau sự ưng thuận đã được biểu lộ, thì có thể ban việc điều trị tại căn từ lúc biểu lộ sự ưng thuận.

Điều 1163

§1. Hôn nhân bất thành do mắc ngăn trở hay do thiếu thể thức hợp thức có thể được điều trị tại căn, miễn là đôi bên vẫn còn duy trì sự ưng thuận.

§2. Hôn nhân bất thành do mắc ngăn trở thuộc luật tự nhiên hoặc thuộc luật thiết định của Thiên Chúa chỉ có thể được điều trị tại căn sau khi đã hết ngăn trở.

Điều 1164

Việc điều trị tại căn có thể được ban thành sự ngay cả khi hai bên hoặc một bên không biết, nhưng chỉ được ban vì một lý do nghiêm trọng.

Điều 1165

§1. Tông Tòa có thể ban việc điều trị tại căn.

§2. Giám Mục giáo phận có thể ban việc điều trị tại căn trong từng trường hợp, ngay cả khi có nhiều lý do bất thành trong cùng một hôn nhân, khi đã hội đủ các điều kiện được nói đến ở điều 1125 đối với việc điều trị tại căn của hôn nhân hỗn hợp; nhưng Giám Mục giáo phận không thể ban việc điều trị tại căn, nếu có một ngăn trở mà Tông Tòa dành riêng cho mình quyền miễn chuẩn chiếu theo quy tắc của điều 1078 §2, hoặc nếu có một ngăn trở thuộc luật tự nhiên hoặc thuộc luật thiết định của Thiên Chúa, mặc dầu ngăn trở ấy đã chấn dứt.

PHẦN II
CÁC VIỆC PHỤNG TỰ KHÁC

ĐỀ MỤC 1
CÁC Á BÍ TÍCH

Điều 1166

Các á bí tích là những dấu chỉ thánh, nhờ đó, phần nào phỏng theo các bí tích, những hiệu quả, đặc biệt là những hiệu quả thiêng liêng, được biểu thị và được thông ban nhờ lời khẩn cầu của Giáo Hội.

Điều 1167

§1. Chỉ một mình Tông Tòa mới có thể thiết lập những á bí tích mới, hoặc chính thức giải thích những á bí tích đã được chấp nhận, hủy bỏ hoặc thay đổi á bí tích nào đó trong số các á bí tích ấy.

§2. Khi thiết lập hoặc ban các á bí tích, phải cẩn thận tuân giữ các nghi lễ và các thể thức đã được quyền bính Giáo Hội phê chuẩn.

Điều 1168

Thừa tác viên các á bí tích là giáo sĩ có quyền do luật đòi hỏi; chiếu theo quy tắc của các sách phụng vụ, giáo dân có tư cách xứng hợp cũng có thể ban một số á bí tích, tùy theo sự thẩm định của Đấng Bản Quyền địa phương.

Điều 1169

§1. Những vị có ấn tích Giám Mục cũng như các linh mục đã được luật cho phép hoặc đã được ban quyền cách hợp pháp, có thể cử hành thành sự việc thánh hiến và cung hiến.

§2. Bất cứ linh mục nào cũng có thể ban các phép lành, trừ những phép lành được dành riêng cho Đức Giáo Hoàng Rôma hoặc cho các Giám Mục.

§3. Phó tế chỉ có thể ban những phép lành mà luật minh nhiên cho phép.

Điều 1170

Các phép lành phải được ban trước hết cho những người Công giáo, nhưng cũng có thể được ban cho các dự tòng, và cho cả những người không Công giáo nữa, trừ khi Giáo Hội ngăn cản điều đó.

Điều 1171

Các đồ vật thánh đã được cung hiến hay đã được làm phép để dùng vào việc thờ phượng Thiên Chúa phải được sử dụng một cách cung kính và không được dùng vào việc trần tục hay việc không thích hợp, mặc dù các đồ vật ấy thuộc quyền sở hữu cá nhân.

Điều 1172

§1. Không ai có thể trừ tà cách hợp pháp cho những người bị quỷ ám, trừ khi có phép đặc biệt và minh nhiên của Đấng Bản Quyền địa phương.

§2. Đấng bản quyền địa phương chỉ ban phép trừ tà cho một linh mục đạo đức, sáng suốt, khôn ngoan và có đời sống vẹn toàn.

ĐỀ MỤC 2
PHỤNG VỤ CÁC GIỜ KINH

Điều 1173

Trong khi chu toàn nhiệm vụ tư tế của Đức Kitô, Giáo Hội cử hành phụng vụ các giờ kinh, nhờ đó Giáo Hội nghe Chúa nói với dân Ngài, tưởng nhớ Mầu Nhiệm Cứu Độ, không ngừng dùng lời kinh tiếng hát để ca ngợi và khẩn cầu Ngài ban ơn cứu độ cho toàn thế giới.

Điều 1174

§1. Các giáo sĩ buộc phải cử hành phụng vụ các giờ knh, chiếu theo quy của điều 276 §2, 30, còn thành viên của các tu hội thánh hiến cũng như các tu đoàn tông đồ buộc phải cử hành phụng vụ các giờ kinh chiếu theo quy tắc của hiến pháp.

§2. Tùy hoàn cảnh, các Kitô hữu khác cũng được tha thiết mời gọi tham dự phụng vụ giờ kinh, vì đó là một hoạt động của Giáo Hội.

Điều 1175.

Khi cử hành phụng vụ các giờ kinh, phải giữ đúng thời khắc thật của mỗi giờ kinh, ngần nào có thể.

ĐỀ MỤC 3
AN TÁNG THEO NGHI THỨC GIÁO HỘI

Điều 1176

§1. Các Kitô hữu đã qua đời phải được an táng theo nghi thức Giáo Hội chiếu theo quy tắc của luật.

§2. Qua nghi thức an táng được cử hành chiếu theo quy tắc của luật phụng vụ, Giáo Hội khẩn cầu ơn trợ giúp thiêng liêng cho những người quá cố, tôn kính thi hài của họ, và đồng thời đem lại niềm an ủi đầy hy vọng cho những người còn sống.

§3. Giáo Hội tha thiết khuyên nhủ nên duy trì tục lệ lành thánh chôn xác người quá cố, tuy nhiên không cấm hỏa táng, trừ khi chọn hỏa táng vì những lý do nghịch với đạo lý Kitô giáo.

CHƯƠNG 1
CỬ HÀNH NGHI THỨC AN TÁNG

Điều 1177

§1. Thông thường, nghi thức an táng của tất cả mọi tín hữu đã qua đời phải được cử hành trong nhà thờ giáo xứ của người ấy.

§2. Tuy nhiên, bất cứ tín hữu nào hoặc những người có nhiệm vụ an táng một tín hữu quá cố được phép chọn một nhà thờ khác để cử hành nghi thức an táng với sự chấp thuận của vị cai quản nhà thờ ấy, và sau khi đã thông báo cho cha sở riêng của người quá cố biết việc ấy.

§3. Nếu một người chết ngoài giáo xứ của mình và thi hài không được đưa về giáo xứ ấy, và nếu không chọn được một nhà thờ nào đó cách hợp pháp để cử hành nghi thức an táng, thì phải cử hành nghi thức an táng trong nhà thờ giáo xứ tại nơi người ấy chết, trừ khi luật địa phương chỉ định nhà thờ khác.

Điều 1178

Nghi thức an táng Giám Mục giáo phận phải được cử hành trong nhà thờ chính tòa của ngài, trừ khi chính ngài chọn một nhà thờ khác.

Điều 1179

Thông thường, nghi thức an táng các tu sĩ hay các thành viên của một tu đoàn tông đồ phải được cử hành trong nhà thờ hoặc nhà nguyện riêng do cha Bề Trên, nếu là hội dòng hay tu đoàn giáo sĩ, bằng không thì do cha tuyên úy.

Điều 1180

§1. Nếu giáo xứ có nghĩa trang riêng, các tín hữu đã qua đời phải được an táng tại đó, trừ khi chính người quá cố hay người có nhiệm vụ an táng người quá cố đã chọn một nghĩa trang khác cách hợp pháp.

§2. Tuy nhiên, mọi người đều được phép chọn nghĩa trang làm nơi an táng của mình, trừ khi bị luật cấm.

Điều 1181

Về những của dâng cúng nhân dịp lễ an táng, phải tuân giữ quy định của điều 1264, nhưng phải liệu sao đừng để có sự thiên vị cá nhân trong việc cử hành lễ an táng, và cũng đừng để người nghèo không được an táng cách xứng hợp.

Điều 1182

Sau khi chôn cất xong, phải ghi vào sổ tử chiếu theo quy tắc của luật địa phương.

CHƯƠNG 2
NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC
HOẶC KHÔNG ĐƯỢC AN TÁNG
THEO NGHI THỨC GIÁO HỘI

Điều 1183

§1. Về những gì gì liên quan đến việc mai táng, các người dự tòng phải được coi như các Kitô hữu.

§2. Đấng Bản Quyền địa phương có thể ban phép cử hành an táng theo nghi thức Giáo Hội cho những nhi đồng nào cha mẹ đã có ý xin Rửa Tội, nhưng đã chết trước khi được Rửa Tội.

§3. Tùy việc xét đoán khôn ngoan của mình, Đấng Bản Quyền địa phương có thể ban phép cử hành an táng theo nghi thức Giáo Hội cho những người đã được Rửa Tội trong một Giáo Hội hoặc một cộng đoàn Giáo Hội không Công Giáo, trừ khi thấy rõ họ muốn cách khác và với điều kiện là không thể có được thừa tác viên riêng của họ.

Điều 1184

§1. Trừ khi đã biểu lộ dấu chỉ sám hối nào đó trước khi đã qua đời, những người sau đây không được an táng theo nghi thức Giáo Hội:

10 những người bội giáo, những người lạc giáo và những người ly giáo hiển nhiên;

20 những người đã chọn hỏa táng thi hài mình vì những lý do nghịch với đức tin Kitô giáo;

30 những tội nhân hiển nhiên khác, mà việc an táng theo nghi thức Giáo Hội không thể không sinh gương xấu công khai cho tín hữu.

§2. Nếu nảy sinh một hồ nghi nào, thì phải than khảo ý kiến của Đấng Bản Quyền địa phương và phải tuân theo phán quyết của ngài.

Điều 1185

Cũng phải từ chối bất cứ Thánh Lễ an táng nào đối với người bị tước quyền được an táng theo nghi thức Giáo Hội.

ĐỀ MỤC 4
TÔN KÍNH CÁC THÁNH,
ẢNH TƯỢNG THÁNH VÀ CÁC THÁNH TÍCH

Điều 1186

Để cổ vũ việc thánh hóa đoàn dân Chúa, Giáo Hội khuyên nhủ các Kitô hữu hãy lấy tình con thảo mà tôn kính đặc biệt Đức Maria rất thánh, trọn đời đồng trinh, là Mẹ Thiên Chúa, là Đấng đã được Đức Kitô đặt làm Mẹ mọi người, và Giáo Hội cổ vũ lòng sùng kính thành thật và chân chính đối với các vị thánh khác, là những Đấng thực ra đang dạy dỗ các Kitô hữu bằng gương sáng của mình và đang nâng đỡ họ bằng việc nguyện giúp cầu thay.

Điều 1187

Chỉ được phép công khai tôn kính những vị Tôi Tớ của Thiên Chúa đã được quyền bính Giáo Hội ghi vào sổ các bậc Hiển Thánh hay các Chân Phước.

Điều 1188

Phải duy trì thói quen trưng bày các ảnh tượng các thánh trong các nhà thờ, để các tín hữu tôn kính, tuy nhiên phải trưng bày các ảnh tượng ấy với số lượng chừng mực và theo một thứ tự thích hợp, để không gây bỡ ngỡ cho dân Kitô giáo và không tạo dịp cho lòng sùng kính mất tính cách chân chính.

Điều 1189

Khi cần phải sửa chữa các ảnh tượng quý giá, tức là các ảnh tượng nổi tiếng vì tính cách cổ kính, vì giá trị nghệ thuật hay vì là đồ vật dành cho việc phụng tự, và được trưng bày trong các nhà thờ hay nhà nguyện để cho tín hữu tôn kính, thì không bao giờ được phục chế, nếu không có phép bằng văn bản của Đấng Bản Quyền, mà trước khi ban, ngài phải tham khảo ý kiến của những chuyên viên.

Điều 1190

§1. Tuyệt đối cấm bán các thánh tích.

§2. Các thánh tích nổi tiếng và những thánh tích khác được dân chúng đặc biệt tôn kính không thể chuyển nhượng thành sự bằng bất cứ cách nào và cũng không thể được di chuyển vĩnh viễn đến nơi khác, nếu không có phép của Tông Tòa.

§3. Quy định của §2 cũng có giá trị đối với những ảnh tượng được dân chúng tôn kính đặc biệt trong một nhà thờ nào đó.

ĐỀ MỤC 5
LỜI KHẤN VÀ LỜI THỀ

CHƯƠNG 1
LỜI KHẤN

Điều 1191

§1. Lời khấn tức là lời hứa có suy nghĩ và tự do với Thiên Chúa về một ích lợi khả thi và tốt hơn; vì thuộc về nhân đức thờ phượng, lời khấn phải được thực hiện.

§2. Trừ khi bị luật cấm, tất cả mọi người biết sử dụng đủ trí khôn, đều có thể khấn.

§3. Lời khấn được tuyên hứa do một sự sợ hãi nghiêm trọng và bất công hay do man trá, thì đương nhiên bất thành.

Điều 1192

§1. Lời khấn là công, nếu được Bề Trên hợp pháp chấp nhận nhân danh Giáo Hội; nếu không thì lời khấn là .

§2. Lời khấn là trọng, nếu được Giáo Hội công nhận như vậy, nếu không thì lời khấn là đơn.

§3. Lời khấn là tòng nhân, khi người khấn cam đoan thực hiện môt việc gì đó; lời khấn là tòng vật, khi hứa một vật gì đó; lời khấn là hỗn hợp, nếu đồng thời mang bản chất của lời khấn tòng nhân và của lời khấn tòng vật.

Điều 1193

Lời khấn tự nó chỉ buộc người khấn mà thôi.

Điều 1194

Lời khấn chấm dứt do mãn thời hạn ấn định để chu toàn nghĩa vụ, do thay đổi về nội dung của lời khấn, do thiếu điều kiện mà lời khấn tùy thuộc vào, do mục đích của lời khấn không còn, do được miễn chuẩn hoặc do được thay thế.

Điều 1195

Người nào có quyền trên nội dung lời khấn, thì có thể đình chỉ tính cách bó buộc của lời khấn, bao lâu việc thi hành lời khấn gây thiệt hại cho mình.

Điều 1196

Ngoài Đức Giáo Hoàng Rôma, những vị sau đây đều có thể miễn chuẩn lời khấn tư vì một lý do chính đáng, miễn là việc miễn chuẩn không làm tổn thương đến quyền lợi thủ đắc của người khác:

10 Đấng Bản Quyền địa phương và cha sở đối với tất cả những người thuộc quyền mình, cũng như đối với những người ngoại cư;

20 Bề Trên của một hội dòng hoặc của một tu đoàn tông đồ đối với những thành viên, những tập sinh và những người ngày đêm cư ngụ trong nhà mình, nếu là một hội dòng hoặc một tu đoàn thuộc luật giáo hoàng;

30 những vị được Tông Tòa hay Đấng Bản Quyền địa phương ủy quyền miễn chuẩn.

Điều 1197

Chính người khấn có thể thay thế việc đã hứa do lời khấn tư bằng một việc tốt hơn hay tương đương; nhưng người có quyền miễn chuẩn có thể thay thế bằng một việc tốt nhỏ hơn chiếu theo quy tắc của điều 1196.

Điều 1198

Những lời khấn đã được tuyên hứa trước khi khấn dòng được đình chỉ bao lâu người khấn còn ở trong hội dòng.

CHƯƠNG 2
LỜI THỀ

Điều 1199

 §1. Lời thề tức là lời kêu cầu danh Chúa làm chứng cho chân lý, chỉ có thể được tuyên thệ trong sự thật, trong sự suy xét và trong công lý.

§2. Lời thề do giáo luật yêu cầu hoặc được giáo luật chấp nhận không thể được tuyên thệ thành sự thành sự qua người đại diện.

Điều 1200

§1. Người nào tự do thề rằng mình sẽ làm việc gì đó, thì buộc phải thực hiện điều mình đã quả quyết bằng lời thề, do sự đòi buộc đặc biệt của đức thờ phượng.

§2. Lời thề bị ép buộc do lường gạt, do bạo lực hoặc do sợ hãi nghiêm trọng, thì đương nhiên bất thành.

Điều 1201

§1. Lời thề có tính cách hứa hẹn đi theo bản chất và những điều kiện của hành vi liên hệ đến lời thề ấy.

§2. Nếu lời thề liên hệ đến một hành vi trực tiếp làm hại người khác, hoặc làm tổn thương công ích hay phần rỗi đời đời, thi hành vi này không có một hiệu lực nào của lời thề ấy.

Điều 1202

 Nghĩa vụ phát sinh do lời thề có tính cách hứa hẹn chấm dứt:

10 nếu được người mà lời thề đã được tuyên thệ vì lợi của họ miễn xá cho;

20 nếu nội dung lời thề đã thay đổi, hoặc nếu nghĩa vụ trở nên tồi tệ hay hoàn toàn vô thưởng vô phạt do hoàn cảnh đã thay đổi, hoặc sau hết, nếu nghĩa vụ ngăn cản một lợi ích lớn hơn;

30 nếu thiếu mục đích hoặc điều kiện vì đó mà lời thề đã được tuyên thệ;

40 nếu được miễn chuẩn hay được thay thế, chiếu theo quy tắc của điều 1203.

Điều 1203

Những vị có thể đình chỉ, miễn chuẩn hay thay thế một lời khấn, thì cũng có quyền như vậy và theo cùng một cách thức đối với lời thề có tính cách hứa hẹn, nhưng nếu việc miễn chuẩn lời thề gây thiệt hại cho những người khác và họ từ chối giải trừ nghĩa vụ, thì chỉ một mình Tông Tòa mới có thể miễn chuẩn lời thề ấy.

Điều 1204

Theo luật, lời thề phải được giải thich theo nghĩa hẹp và theo chủ ý của người thề, hoặc nếu người thề tuyên thệ vì man trá, thì phải theo chủ ý của người nhận lời thề.

PHẦN III
NƠI THÁNH VÀ THỜI GIAN THÁNH

ĐỀ MỤC 1
NƠI THÁNH

Điều 1205

Nơi thánh là những nơi đã được cung hiến hay được làm phép theo quy định của các sách phụng vụ, để dùng vào việc thờ phượng Thiên Chúa hay để mai táng các tín hữu.

Điều 1206

Việc cung hiến một nơi nào đó thuộc về Giám Mục giáo phận và những vị được luật coi là tương đương với Giám Mục; các vị này có thể ủy quyền cho bất cứ Giám Mục nào, hay cho một linh mục nào đó trong những trường hợp ngoại lệ, để thực hiện nghi thức cung hiến trong địa hạt riêng của mình.

Điều 1207

Đấng Bản Quyền làm phép các nơi thánh, nhưng việc làm phép các nhà thờ thì được dành riêng cho Giám Mục giáo phận; cả hai vị đều có quyền cho một tư tế khác để làm việc ấy.

Điều 1208

Sau khi đã cung hiến hay phép nhà thờ, cũng như sau khi đã làm phép nghĩa địa, phải soạn thảo một chứng thư về việc ấy, một bản được lưu giữ tại tòa giám mục và một bản khác tại văn khố của nhà thờ.

Điều 1209

Việc cung hiến hay làm phép một nơi nào đó chỉ cần có một nhân chứng đáng tin làm chứng là đủ, miễn là việc làm chứng này không làm thiệt hại ai.

Điều 1210

Trong một nơi thánh chỉ được phép làm những việc giúp thi hành hay thăng tiến việc thờ phượng, lòng đạo đức và tôn giáo, và cấm làm bất cứ điều gì không xứng hợp với sự thánh thiện của nơi thánh. Tuy nhiên, Đấng Bản Quyền có thể cho phép sử dụng từng lần vào các việc khác, miễn là không nghịch với sự thánh thiện của nơi thánh.

Điều 1211

 Những nơi thánh bị xúc phạm do những hành vi vì bất xứng nghiêm trọng đã phạm tại đó và đã gây gương xấu cho các tín hữu, theo sự phán đoán của Đấng Bản Quyền địa phương những hành vi ấy có tính cách nghiêm trọng và nghịch với sự thánh thiện của nơi thánh, đến nỗi không được phép cử hành việc thờ phượng tại đó nữa, cho đến khi đền bù lại sự bất xứng đó bằng nghi thức sám hối chiếu theo quy tắc của các sách phụng vụ.

Điều 1212

Những nơi thánh mất tính cách đã được cung hiến hay đã được làm phép, nếu phần lớn đã bị phá hủy, hoặc được sử dụng vào những việc phàm tục một cách thường xuyên, hoặc do sắc lệnh của Đấng Bản Quyền có thẩm quyền, hoặc do thực tế.

Điều 1213

Nhà chức trách Giáo Hội được tự do thi hành các quyền và các nhiệm vụ của mình trong các nơi thánh.

CHƯƠNG 1
NHÀ THỜ

 Điều 1214

Được hiểu là một tòa nhà thánh dành riêng cho việc thờ phượng Thiên Chúa, nhà thờ là nơi các tín hữu có quyền vào để thi hành việc thờ phượng Thiên Chúa, nhất là việc thờ phượng công.

Điều 1215

§1. Không được xây dựng nhà thờ, nếu không có sự chấp nhận minh nhiên bằng văn bản của Giám Mục giáo phận.

§2. Giám Mục giáo phận chỉ nên chấp thuận, nếu sau khi đã tham khảo ý kiến của hội đồng linh mục và các vị quản nhiệm nhà thờ lân cận, ngài xét thấy là nhà thờ có thể đem lại lợi ích cho các linh hồn, và sẽ không thiếu những phương tiện cần thiết để xây dựng nhà thờ cũng như để thi hành việc thờ phượng Thiên Chúa.

§3. Dù đã được Giám Mục giáo phận chấp thuận cho phép thiết lập nhà mới trong giáo phận hay trong thành phố của ngài, các hội dòng cũng phải cũng có phép của ngài trước khi xây dựng nhà thờ ở một nơi đích xác và nhất định.

Điều 1216

 Khi xây dựng và sửa chữa nhà thờ, ngoài việc hỏi ý các chuyên viên, phải giữ những nguyên tắc và quy tắc phụng vụ và nghệ thuật thánh.

Điều 1217

§1. Một khi đã được xây dựng xong, nhà thờ mới phải được cung hiến sớm hết sức, hoặc ít là phải được làm phép, theo luật phụng vụ thánh.

§2. Các nhà thờ, nhất là nhà thờ chính tòa và nhà thờ giáo xứ, phải được cung hiến cách trọng thể.

Điều 1218

Mỗi nhà thờ phải có một tước hiệu riêng và một khi đã được cung hiến thì không được thay đổi tước hiệu này nữa.

Điều 1219

Trong một nhà thờ đã được cung hiến hay đã được làm phép một cách hợp pháp, thì có thể cử hành tất cả mọi hành vi thờ phượng Thiên Chúa, miễn là vẫn tôn trọng các quyền lợi của giáo xứ.

Điều 1220

§1. Việc chăm lo gìn giữ các nhà thờ được sạch sẽ và mỹ quan, xứng đáng là nhà Thiên Chúa, và loại bỏ những gì không thích hợp với sự thánh thiện của nhà thờ thuộc về tất cả những người có trách nhiệm coi sóc nhà thờ.

§2. Để gìn giữ những đồ thánh quý giá, phải thường xuyên quan tâm đến việc bảo quản và phải sử dụng những phương tiện an toàn thích hợp.

Điều 1221

Phải được tự do và được miễn phí vào nhà thờ trong lúc cử hành các nghi lễ thánh.

Điều 1222

§1. Nếu một nhà thờ không thể được sử dụng vào việc thờ phượng Thiên Chúa bằng bất cứ cách nào và cũng không thể tu bổ được nữa, Giám Mục giáo phận có thể sử dụng nhà thờ đó vào việc phàm tục tương hợp.

§2. Nơi nào có những lý do nghiêm trọng khác khuyên không nên sử dụng một nhà thờ nào đó, vào việc thờ phượng Thiên Chúa nữa, thì Giám Mục giáo phận sau khi đã tham khảo ý kiến của hội đồng linh mục, có thể cho sử dụng nhà thờ ấy vào một việc phàm tục tương hợp, với sự đồng ý của những người yêu sách quyền lợi của họ trên nhà thờ ấy cách hợp lệ, và miễn là không làm thiệt hại đến lợi ích của các linh hồn.

CHƯƠNG 2
NHÀ NGUYỆN VÀ NHÀ NGUYỆN TƯ

Điều 1223

Nhà nguyện được hiểu là một nơi được Đấng Bản Quyền ban phép dành vào việc thờ phượng Thiên Chúa, vì lợi ích của một cộng đoàn hay của một nhóm tín hữu quy tụ tại đó, các tín hữu khác cũng có thể vào nhà nguyện ấy với sự chấp thuận của Bề Trên có thẩm quyền.

Điều 1224

§1. Đấng Bản Quyền chỉ nên ban phép cần thiết để thiết lập một nhà nguyện, sau khi đã đích thân hay nhờ một người khác đến tham quan nơi dành làm nhà nguyện và đã thấy nơi ấy được bố trí thích hợp.

§2. Một khi đã được phép rồi, nhà nguyện không thể được sử dụng vào việc phàm tục, nếu không có phép của chính Đấng Bản Quyền ấy.

Điều 1225

Trong các nhà nguyện đã được thiết lập cách hợp pháp, có thể cử hành tất cả mọi nghi lễ thánh, trừ những nghi lễ mà luật hoặc các quy định của Đấng Bản Quyền địa phương đã loại bỏ, hoặc nghịch với những quy tắc phụng vụ.

Điều 1226

Nhà nguyện tư được hiểu là một nơi đã được Đấng Bản Quyền địa phương ban phép dành cho việc thờ phượng Thiên Chúa, vì lợi ích của một hay nhiều thể nhân.

Điều 1227

Các Giám Mục có thể thiết lập cho mình một nhà nguyện tư, nhà nguyện tư này có cùng những quyền lợi của một nhà nguyện.

Điều 1228

Miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1227, để cử hành Thánh Lễ và các nghi lễ thánh trong một nhà nguyện tư nào đó, thì buộc phải có phép của Đấng Bản Quyền địa phương.

Điều 1129

Nên làm phép nhà nguyện và nhà nguyện tư theo nghi lễ được quy định trong các sách phụng vụ, nhưng các nhà nguyện này phải được dành riêng vào việc thờ phượng Thiên Chúa mà thôi, và không được sử dụng vào bất cứ việc gì trong nhà.

CHƯƠNG 3
ĐỀN THÁNH

Điều 1230

Đền thánh được hiểu là một nhà thờ hay một nơi thánh nào khác, mà nhiều tín hữu đi hành hương tới đó vì lòng đạo đức đặc biệt, với sự chấp thuận của Đấng Bản Quyền địa phương.

Điều 1231

Để một đền thánh có thể được gọi là đền thánh quốc gia, thì phải được Hội Đồng Giám Mục phê chuẩn; để có thể được gọi là đền thánh quốc tế, thì buộc phải có sự phê chuẩn của Tòa Thánh.

Điều 1232

§1. Đấng Bản Quyền địa phương có thẩm quyền phê chuẩn các quy chế đền thánh giáo phận; Hội Đồng Giám Mục có thẩm quyền phê chuẩn các quy chế đền thánh quốc gia và chỉ một mình Tòa Thánh mới có thẩm quyền phê chuẩn các quy chế đền thánh quốc tế.

§2. Các quy chế phải đặc biệt xác định mục đích, quyền bính của cha quản nhiệm, quyền sở hữu và việc quản trị tài sản.

Điều 1233

Có thể ban cho các đền thánh một số đặc ân mỗi khi thấy hoàn cảnh địa phương, số người hành hương đông đảo và nhất là lợi ích của các tín hữu đòi hỏi điều đó.

Điều 1234

§1. Tại các đền thánh, phải cung cấp các phương tiện cứu độ cho các tín hữu một cách dồi dào, bằng cách nhiệt thành rao giảng Lời Chúa, cổ vũ cách thích hợp đời sống phụng vụ, đặc biệt là qua việc cử hành bí tích Thánh Thể và bí tích Sám Hối, cũng như bằng cách duy trì việc thực hành lòng sùng đạo bình dân đã được chuẩn nhận.

§2. Những kỷ vật dâng cúng có giá trị nghệ thuật bình dân và đạo đức được trưng bày trong các đền thánh hoặc trong các nơi kề cận phải được bảo tồn và gìn giữ an toàn.

CHƯƠNG 4
BÀN THỜ

Điều 1235

§1. Bàn thờ, tức là chiếc bàn mà Hiến Tế Thánh Thể được cử hành trên đó, được coi là cố định, nếu được xây gắn liền với nền nhà, đến nỗi không thể di chuyển được; được coi là di động, nếu có thể di chuyển được.

§2. Trong tất cả mọi nhà thờ, nên có một bàn thờ cố định; nhưng trong các nơi khác dành cho việc cử hành các nghi lễ thánh, bàn thờ có thể cố định hay di động.

Điều 1236

§1. Theo truyền thống thực tiễn của Giáo Hội, mặt bàn thờ cố định phải bằng đá, và còn phải bằng nguyên một phiến đá tự nhiên; tuy nhiên, cũng có thể chấp nhận cho dùng một vật liệu khác xứng đáng và rắn chắc, theo sự thẩm định của Hội Đồng Giám Mục. Còn phần chống đỡ hay chân bàn thờ có thể được làm bằng bất cứ vật liệu nào.

§2. Bàn thờ di động có thể được làm bất cứ vật liệu rắn chắc nào hợp với việc sử dụng trong phụng vụ.

Điều 1237

§1. Các bàn thờ cố định phải được cung hiến, còn bàn thờ di động phải được cung hiến hoặc được làm phép theo nghi thức đã được quy định trong các sách phụng vụ.

§2. Phải giữ gìn truyền thống cổ kính đặt các thánh tích của các thánh tử đạo hay các thánh khác dưới bàn thờ cố định, theo các quy tắc được quy định trong các sách phụng vụ.

Điều 1238

§1. Một bàn thờ mất tính cách đã được cung hiến hay đã được làm phép chiếu theo quy tắc của điều 1212.

§2. Do sự kiện cho sử dụng nhà thờ hay một nơi thánh khác vào việc phàm tục, các bàn thờ cố định hay di động không mất tính cách đã được cung hiến, và cũng không mất tính cách đã được làm phép.

Điều 1239

§1. Cả bàn thờ cố định lẫn bàn thờ di động chỉ được dành riêng cho việc thờ phượng Thiên Chúa, tuyệt đối không được sử dụng vào bất cứ việc phàm tục nào.

§2. Không được chôn cất thi hài dưới bàn thờ; nếu có thì không được phép cử hành Thánh Lễ trên bàn thờ ấy.

CHƯƠNG 5
NGHĨA TRANG

Điều 1240

§1. Phải có những nghĩa trang riêng của Giáo Hội ở nào có thể, hay ít ra phải có những khu vực dành riêng cho các tín hữu đã qua đời trong những trang dân sự, và những khu vực này phải được làm phép đúng nghi thức.

§2. Nếu không thể có các nghĩa trang riêng, thì phải làm phép các phần mộ từng lần một đúng nghi thức.

Điều 1241

§1. Các giáo xứ và các hội dòng có thể có nghĩa trang riêng.

§2. Các pháp nhân khác hay các gia đình cũng có thể có nghĩa trang hay hầm mộ riêng, nghĩa trang và hầm mộ này phải được làm phép, tùy theo sự thẩm định của Đấng Bản Quyền địa phương.

Điều 1242

Không được chôn cất các thi hài trong các nhà thờ, trừ khi thi hài của Đức Giáo Hoàng Rôma, của các Hồng Y và của các Giám Mục giáo phận, ngay cả nguyên Giám Mục, thì phải được chôn cất trong nhà thờ của mình.

Điều 1243

Luật địa phương phải ấn định những quy tắc thích hợp về kỷ luật phải giữ trong các nghĩa trang, nhất là về những gì liên quan tới việc duy trì và bảo vệ tính cách thiêng liêng của những nơi ấy.

ĐỀ MỤC 2
THỜI GIAN THÁNH

Điều 1244

§1. Việc thiết lập, chuyển dời và hủy bỏ những ngày lễ cũng như các ngày sám hối chung cho Giáo Hội toàn cầu thuộc về một mình quyền bính tối cao của Giáo Hội; miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1246 §2.

§2. Các Giám Mục giáo phận có thể ấn định các ngày lễ hoặc các ngày sám hối riêng cho giáo phận hay cho một vài nơi trong giáo phận, nhưng chỉ từng lần mà thôi.

Điều 1245

Miễn là vẫn giữ nguyên quyền của Giám Mục giáo phận được nói đến ở điều 87, vì một lý do chính đáng, và theo quy định của Giám Mục giáo phận, cha sở, trong từng trường hợp, có thể miễn chuẩn nghĩa vụ phải giữ một ngày lễ hay một ngày sám hối hoặc thay thế nghĩa vụ ấy gằng một việc đạo đức khác; Bề Trên của một hội dòng hay của một tu đoàn tông đồ cũng có những quyền ấy đối với những người thuộc quyền mình và những người khác đêm ngày cư ngụ trong nhà mình, nếu hội dòng và tu đoàn thuộc luật giáo hoàng.

CHƯƠNG 1
CÁC NGÀY LỄ

Điều 1246

§1. Theo truyền thống tông đồ, mầu nhiệm Vượt Qua được cử hành trong ngày Chúa Nhật, ngày đó phải được giữ như là ngày lễ buộc chính yếu trong Giáo Hội toàn cầu. Và cũng phải giữ như là ngày lễ buộc chính yếu những ngày lễ Sinh Nhật Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, lễ Hiển Linh, lễ Thăng Thiên, lễ Mình và Máu Rất Thánh Đức Kitô, lễ Thánh Maria Mẹ Thiên Chúa, lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm và lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, lễ Thánh Giuse, lễ hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô, và sau cùng là lễ các thánh.

§2. Tuy nhiên, với sự phê chuẩn trước của Tòa Thánh, Hội Đồng Giám Mục có thể hủy bỏ hoặc chuyển một số lễ buộc sang ngày Chúa Nhật.

Điều 1247

Các tín hữu buộc phải tham dự Thánh Lễ ngày Chúa Nhật và các ngày lễ buộc khác; hơn nữa, còn phải kiêng làm việc xác và những công việc gây trở ngại cho việc thờ phượng Thiên Chúa, cho niềm vui riêng trong ngày của Chúa, hoặc cho việc nghỉ ngơi cần thiết của tinh thần và thể xác.

Điều 1248

§1. Người nào tham dự Thánh Lễ được cử hành theo nghi thức Công giáo trong chính ngày lễ hoặc chiều ngày áp lễ ở bất cứ nơi nào, thì đã giữ trọn luật buộc phải tham dự Thánh Lễ.

§2. Nếu không thể tham dự việc cử hành Thánh Lễ vì thiếu thừa tác viên có chức thánh hay vì bất cứ lý do nghiêm trọng nào khác, tha thiết khuyên nhủ các tín hữu nên tham dự phụng vụ Lời Chúa được cử hành theo những quy định của Giám Mục giáo phận trong nhà thờ giáo xứ, nếu có, hoặc tại một nơi thánh nào khác, hoặc nên cầu nguyện trong một thời gian thích hợp, cách riêng tư hoặc với gia đình, hoặc với các nhóm gia đình, tùy dịp.

CHƯƠNG 2
CÁC NGÀY SÁM HỐI

Điều 1249

 Luật Thiên Chúa buộc tất cả mọi Kitô hữu phải làm việc sám hối, mỗi người theo cách thức của mình, nhưng để mọi người được hiệp nhất trong cách tuân giữ chung việc sám hối, luật quy định những ngày sám hối, và trong những ngày ấy, các Kitô hữu phải cầu nguyện cách đặc biệt, phải thực hành việc đạo đức và bác ái, phải từ bỏ chính mình bằng cách chu toàn các nghĩa vụ của mình cách trung thành hơn, và nhất là bằng cách giữ chay và kiêng thịt, chiếu theo quy tắc của các điều khoản sau đây.

Điều 1250

Những ngày và mùa sám hối trong Giáo Hội toàn cầu là các ngày thứ sáu trong năm và mùa Chay.

Điều 1251

Vào các ngày thứ sáu trong năm, nếu không trùng với một trong những ngày lễ trọng, thì phải kiêng thịt hoặc phải kiêng một thức ăn nào khác, theo quy định của Hội Đồng Giám Mục; nhưng phải kiêng thịt và ăn chay trong ngày thứ tư Lễ Tro và ngày thứ sáu kính cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta.

Điều 1252

Những người đã được mười bốn tuổi trọn buộc phải giữ luật kiêng thịt, nhưng tất cả mọi người từ tuổi thành niên cho đến khi bắt đầu được sáu mươi tuổi phải giữ luật ăn chay. Tuy nhiên, các vị chủ chăn các linh hồn và các bậc cha mẹ phải liệu sao để cả những người trẻ được miễn khỏi giữ luật ăn chay kiêng thịt vì lý do tuổi tác cũng được giáo dục về ý nghĩa đích thực của việc sám hối.

Điều 1253

Hội Đồng Giám Mục có thể ấn định rõ ràng hơn những thể thức ăn chay và kiêng thịt, cũng như những hình thức sám hối khác, nhất là những công việc bác ái và những việc đạo đức có thể thay thế toàn phần hay một phần việc kiêng thịt và ăn chay.

Trở về Mục Lục