You are here

Quyển V: Tài Sản Vật Chất Của Giáo Hội

QUYỂN V
TÀI SẢN VẬT CHẤT CỦA GIÁO HỘI

Điều 1254

§1. Do quyền bẩm sinh, Giáo Hội Công Giáo có thể thủ đắc, duy trì, quản trị và chuyển nhượng tài sản vật chất một cách độc lập với quyền bính dân sự, để theo đuổi những mục đích riêng của mình.

§2. Những mục đích riêng chính yếu là: tổ chức việc thờ phượng Thiên Chúa, trợ cấp thích đáng cho hàng giáo sĩ và các thừa tác viên khác, làm việc tông đồ và bác ái, nhất là đối với những người nghèo.

Điều 1255

Giáo Hội toàn cầu và Tông Toà, các Giáo Hội địa phương cũng như tất cả mọi pháp nhân công hay tư, đều là những chủ thể có khả năng thủ đắc, duy trì, quản trị và chuyển nhượng tài sản vật chất chiếu theo quy tắc của luật.

Điều 1256

Dưới quyền bính tối cao của Đức Giáo Hoàng Rôma, quyền sở hữu tài sản thuộc về pháp nhân nào đã thủ đắc tài sản ấy cách hợp pháp.

Điều 1257

§1. Tất cả mọi tài sản vật chất thuộc về Giáo Hội toàn cầu, Tông Tòa hay các pháp nhân công khác trong Giáo Hội, đều là tài sản của Giáo Hội và được quản trị theo các điều luật sau đây, cũng như theo các quy chế riêng của những pháp nhân ấy.

§2. Các tài sản vật chất của một pháp nhân tư được quản trị theo theo các quy chế riêng của pháp nhân ấy, chứ không theo các điều luật này, trừ khi luật minh nhiên quy định cách khác.

Điều 1258

Trong các điều luật sau đây, từ ngữ Giáo Hội không những được hiểu là Giáo Hội toàn cầu hay Tông Toà, nhưng còn được hiểu là bất cứ pháp nhân công nào trong Giáo Hội, trừ khi văn mạch hay bản chất sự việc cho hiểu cách khác.

ĐỀ MỤC 1
THỦ ĐẮC TÀI SẢN

Điều 1259

Giáo Hội có thể thủ đắc tài sản vật chất bằng mọi phương tiện chính đáng mà luật tự nhiên hoặc luật thiết định cho phép mọi người khác.

Điều 1260

Giáo Hội có quyền bẩm sinh đòi hỏi nơi các Kitô hữu những gì cần thiết cho các mục đích riêng của mình.

Điều 1261

§1. Các Kitô hữu có trọn quyền sử dụng tài sản vật chất của mình để giúp Giáo Hội.

§2. Giám Mục giáo phận buộc phải nhắc nhở các tín hữu về nghĩa vụ được nói đến ở điều 222 §1, và phải thúc bách họ thi hành nghĩa vụ ấy cách thích hợp.

Điều 1262

Các tín hữu phải giúp đỡ Giáo Hội bằng những việc đóng góp mà họ được yêu cầu, theo các quy tắc do Hội Đồng Giám Mục ban hành.

Điều 1263

Sau khi đã tham khảo ý kiến của hội đồng kinh tế và hội đồng linh mục, Giám Mục giáo phận có quyền đòi buộc các pháp nhân công thuộc quyền lãnh đạo của ngài phải nộp các khoản thuế vừa phải và cân xứng với hoa lợi của họ, để đáp ứng những nhu cầu của giáo phận; còn đối với các thể nhân và pháp nhân khác, trong trường hợp hết sức cần thiết và với những điều kiện như trên, ngài chỉ được đòi một khoản đóng góp ngoại thường vừa phải, miễn là vẫn giữ nguyên những lề luật và những tục lệ địa phương đã dành cho ngài những quyền lớn hơn.

Điều 1263

Trừ khi luật đã dự liệu cách khác, hội nghị các Giám Mục thuộc giáo tỉnh:

10 ấn định các lệ phí đối với những hành vi thuộc quyền hành pháp cấp ban ân huệ, hoặc đối với việc thi hành các phúc chiếu của Tông Toà; lệ phí này phải được chính Tông Tòa phê chuẩn.

20 ấn định thù lao nhân dịp ban các bí tích và á bí tích.

Điều 1265

§1. Miễn là vẫn giữ nguyên quyền của các tu sĩ hành khất, cấm tất cả mọi cá nhân, thể nhân hoặc pháp nhân, lạc quyên cho bất cứ việc đạo đức nào, hoặc tổ chức hay mục đích nào của Giáo Hội, khi không có phép bằng văn bản của Đấng Bản Quyền riêng hay của Đấng Bản Quyền địa phương.

§2. Hội Đồng Giám Mục có thể ấn định những quy tắc về việc tổ chức lạc quyên mà mọi người phải tuân giữ, kể cả những người theo định chế mang danh hành khất và thật sự là hành khất.

Điều 1266

Trong tất cả các nhà thờ và nhà nguyện, dù thuộc về các dòng tu mà trong thực tế thường xuyên mở cửa cho các Kitô hữu lui tới, Đấng Bản Quyền địa phương có thể ra lệnh thực hiện một cuộc lạc quyên đặc biệt cho những dự án nhất định của giáo xứ, giáo phận, quốc gia, hay toàn cầu, và phải cẩn thận gửi tiền lạc quyên về tòa giám mục.

Điều 1267

§1. Các của dâng cúng cho các Bề Trên hay cho các người quản trị của bất cứ pháp nhân nào trong Giáo Hội, dù là pháp nhân tư, thì kể như là dâng cúng cho chính pháp nhân ấy, trừ khi thấy rõ ngược lại.

§2. Không được từ chối các của dâng cúng được nói đến ở §1, trừ khi có một lý do chính đáng, và trong những việc quan trọng hơn, thì phải có phép của Đấng Bản Quyền, nếu là một pháp nhân công; cũng cần có phép của chính Đấng Bản Quyền này, để nhận những của dâng cúng có kèm theo một hình thức trách nhiệm hay một điều kiện nào đó, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1295.

§3. Những của cải do các tín hữu dâng cúng vào một mục đích nhất định nào đó, thì chỉ có thể được sử dụng vào mục đích ấy mà thôi.

Điều 1268

Giáo Hội chấp nhận thời hiệu như là phương thế để thủ đắc và để tự giải thoát trong lĩnh vực tài sản vật chất, chiếu theo quy tắc của các điều 197-199.

Điều 1269

Các tư nhân có thể thủ đắc các đồ vật thánh thuộc quyền sở hữu cá nhân nhờ thời hiệu, nhưng không được dùng vào việc phàm tục, trừ khi các đồ vật thánh ấy đã mất tính cách đã được cung hiến hay đã được làm phép; nhưng nếu các đồ vật thánh ấy thuộc về một pháp nhân công của Giáo Hội, thì chỉ một pháp nhân công khác của Giáo Hội mới có thể thủ đắc.

Điều 1270

Các bất động sản, các động sản quý giá, các quyền lợi và các tố quyền đối nhân hay đối vật thuộc về Tông Tòa, được thủ đắc nhờ thời hiệu sau một trăm năm, nếu thuộc về một pháp nhân công khác của Giáo Hội, thì được thủ đắc nhờ thời hiệu sau ba mươi năm.

Điều 1271

Vì mối dây hiệp nhất và bác ái và theo khả năng của Giáo phận mình, các Giám Mục phải giúp đỡ Tông Tòa bằng cách cung cấp những phương tiện mà Tông Tòa cần đến, tùy hoàn cảnh thời gian, để Tông Tòa có thể phục vụ Giáo Hội toàn cầu một cách chu đáo.

Điều 1272

Ở những miền có các bổng lộc theo nghĩa hẹp, Hội Đồng Giám Mục thiết lập những quy tắc thích hợp được Tông Tòa chấp thuận và phê chuẩn, để quản trị các bổng lộc ấy theo cách nào mà dần dần hoa lợi và cả chính nguồn vốn của bổng lộc, trong mức độ có thể, đều được chuyển sang cho tổ chức được nói đến ở điều 1274 §1.

ĐỀ MỤC 2
QUẢN TRỊ TÀI SẢN

Điều 1273

Do quyền lãnh đạo tối thượng, Đức Giáo Hoàng Rôma là vị quản trị tối cao và là người phân phát tất cả mọi tài sản của Giáo Hội.

Điều 1274

§1. Trong mỗi giáo phận, phải có tổ chức đặc biệt để thu góp các tài sản và các của dâng cúng nhằm trợ cấp cho các giáo sĩ đang phục vụ giáo phận, chiếu theo quy tắc của điều 281, trừ khi đã dự liệu cách khác cho họ.

§2. Ở đâu chưa có tổ chức dự phòng xã hội thích đáng cho hàng giáo sĩ, thì Hội Đồng Giám Mục phải liệu sao cho có được một tổ chức dự phòng đầy đủ việc bảo hiểm xã hội cho các giáo sĩ.

§3. Trong mỗi giáo phận, nếu cần, phải thiết lập một quỹ chung, để các Giám Mục có thể chu toàn nghĩa vụ của mình đối với những nhân viên khác đang phục vụ Giáo Hội và để chu cấp cho các nhu cầu khác nhau của giáo phận, cũng như để giáo phận giàu hơn có thể giúp đỡ các giáo phận nghèo hơn.

§4. Tùy theo những hoàn cảnh địa phương khác nhau, các mục tiêu được nói đến ở §§2 và 3 có thể đạt được cách tốt đẹp hơn bằng một hội liên hiệp các tổ chức giáo phận, hoặc bằng một sự hợp tác, hoặc bằng một hiệp hội thích hợp, được thiết lập cho nhiều giáo phận khác nhau và ngay cả cho toàn địa hạt của chính Hội Đồng Giám Mục nữa.

§5. Các tổ chức trên đây, nếu có thể, phải được thiết lập thế nào để có giá trị trước luật dân sự nữa.

Điều 1275

Toàn bộ tài sản đến từ các giáo phận khác nhau phải được quản trị theo những quy tắc đã được các Giám Mục liên hệ thiết lập cách thích hợp, với một sự thỏa thuận chung.

Điều 1276

§1. Đấng Bản Quyền giám sát cẩn thận việc quản trị mọi tài sản thuộc về những pháp nhân công ở dưới quyền mình, miễn là vẫn giữ nguyên những danh nghĩa hợp pháp dành cho ngài quyền lớn hơn.

§2. Các Đấng Bản Quyền phải lo tổ chức toàn bộ việc quản trị tài sản Giáo Hội, bằng cách ban hành những huấn thị riêng trong khuôn khổ của luật phổ quát và luật địa phương, mà vẫn lưu ý đến những quyền lợi, những tục lệ hợp pháp và những hoàn cảnh.

Điều 1277

Xét theo tình hình kinh tế của giáo phận, Giám Mục giáo phận phải tham khảo ý kiến của hội đồng kinh tế và ban tư vấn để thực hiện những hành vi quản trị quan trọng hơn; nhưng ngài cần có sự ưng thuận của hội đồng kinh tế và ban tư vấn để thực hiện các hành vi quản trị ngoại thường, trừ những trường hợp đã được luật phổ quát hoặc văn bản thành lập xác định cách đặc biệt. Hội Đồng Giám Mục ấn định những hành vi nào được coi là những hành vi quản trị ngoại thường.

Điều 1278

Ngoài những nhiệm vụ được nói đến ở điều 494 §§3 và 4, Giám Mục giáo phận có thể ủy thác cho vị quản lý những nhiệm vụ được nói đến ở những điều 1276 §1 và 1279 §2.

Điều 1279

§1. Việc quản trị tài sản Giáo Hội thuộc về người trực tiếp điều hành pháp nhân có tài sản ấy, trừ khi luật địa phương, các quy chế hoặc một tục lệ hợp pháp quy định cách khác, và vẫn giữ nguyên quyền can thiệp của Đấng Bản Quyền trong trường hợp người quản trị xao lãng bổn phận.

§2. Trong việc quản trị những tài sản của một pháp nhân công, nếu luật, văn bản thành lập hoặc những quy chế riêng không dự liệu một người quản trị, thì Đấng Bản Quyền mà pháp nhân ấy trực thuộc phải chỉ định những người có khả năng xứng hợp trong thời hạn ba năm; Đấng Bản Quyền có thể tái bổ nhiệm những người này.

Điều 1280

Pháp nhân nào cũng phải có hội đồng kinh tế hay ít là hai người cố vấn, để giúp người quản trị chu toàn nhiệm vụ, chiếu quy tắc của các quy chế.

Điều 1281

§1. Các người quản trị thực hiện vô hiệu những hành vi vượt quá những giới hạn và cách thức của việc quản trị thông thường, trừ khi Đấng Bản Quyền đã ban năng quyền bằng văn bản cho họ trước, miễn là vẫn giữ nguyên quy định của các quy chế.

§2. Các quy chế phải ấn định những hành vi vượt quá giới hạn và cách thức của việc quản trị thông thường; nếu quy chế không nói gì về vấn đề này, thì Giám Mục giáo phận xác định những hành vi thuộc loại này là những hành vi nào cho những người thuộc quyền, sau khi tham khảo ý kiến của hội đồng kinh tế.

§3. Pháp nhân không buộc phải chịu trách nhiệm về những hành vi mà các người quản trị đã thực hiện vô hiệu, trừ khi và trong mức độ mà điều đó có lợi cho pháp nhân; nhưng chính pháp nhân phải chịu trách nhiệm về những hành vi mà các người quản trị đã thực hiện cách bất hợp pháp nhưng lại thành sự, miễn là pháp nhân vẫn giữ nguyên quyền khởi tố hoặc quyền thượng cầu chống lại những người quản trị đã gây thiệt hại cho mình.

Điều 1282

Bất cứ người nào, dù là giáo sĩ hay giáo dân, tham gia vào việc quản trị tài sản của Giáo Hội dưới một danh nghĩa hợp pháp, buộc phải chu toàn nhiệm vụ nhân danh Giáo Hội, chiếu theo quy tắc của luật.

Điều 1283

Trước khi bắt đầu nhiệm vụ của mình, các người quản trị:

10 tuyên thệ trước mặt Đấng Bản Quyền hay vị đại diện ngài là mình sẽ quản trị cách tận tụy và trung tín;

20 làm một bản kiểm kê chính xác và chi tiết các bất động sản, động sản quý giá hoặc có giá trị văn hóa cách nào đó, cũng như các tài sản khác, cùng với sự mô tả và thẩm định giá trị của những tài sản ấy, và họ phải ký tên vào đó; một khi đã được thực hiện, bản kiểm kê này phải được xác nhận;

30 một bản của bản kiểm kê phải được lưu trữ trong văn khố quản trị, một bản trong văn khố của tòa giám mục; mọi thay đổi liên hệ đến di sản cần phải được ghi chú trong cả hai bản.

Điều 1284

§1. Tất cả mọi người quản trị buộc phải thực hiện nhiệm vụ của mình một cách chu đáo như một gia chủ tốt lành.

§2. Do đó các người quản trị phải:

10 liệu sao để các tài sản được trao cho mình coi sóc không bị mất hoặc không bị hư hại bằng bất cứ cách nào, để đạt được mục đích ấy, họ phải ký những khế ước bảo hiểm, nếu cần;

20 liệu sao để bảo đảm quyền sở hữu các tài sản của Giáo Hội bằng những phương thế hữu hiệu theo luật dân sự;

30 tuân giữ những quy định của giáo luật cũng như của luật dân sự, hay những quy định mà người sáng lập, hoặc người dâng cúng, hoặc quyền bính hợp pháp đã đặt ra, và nhất là phải ý tứ đừng để Giáo Hội bị thiệt hại vì không tuân giữ luật dân sự;

40 cẩn thận thu hoa lợi và doanh thu của tài sản vào thời gian thích hợp, phải bảo quản cách an toàn những của cải đã thu được và phải sử dụng những của cải ấy theo ý định của người sáng lập hoặc theo những quy tắc hợp pháp;

50 trả tiền lời do vay mượn hoặc do thế nợ vào thời hạn quy định, và phải hoàn lại vốn đúng lúc;

60 sử dụng số tiền thặng dư vào những mục đích của pháp nhân, với sự đồng ý của Đấng Bản Quyền, sau khi đã trả xong các chi phí, và số tiền thặng dư ấy có thể được đầu tư một cách hữu ích;

70 giữ số thu chi được ghi chép rõ ràng;

80 cuối năm phải làm bản tường trình về việc quản trị;

90 sắp xếp cẩn thận và lưu trữ trong một văn khố chắc chắn và thích hợp các văn kiện và các hồ sơ làm nền tảng cho quyền lợi của Giáo Hội hoặc của cơ sở trên các tài sản đó; hơn nữa, ở nơi nào có thể thực hiện cách thuận tiện, phải gửi nộp cho văn khố tòa giám mục những bản sao xác thực của những văn kiện ấy.

§3. Thiết tha khuyên những người quản trị nên soạn thảo những bản dự thu và dự chi hằng năm; nhưng để cho luật riêng buộc những người quản trị phải soạn thảo những bản dự kiến và ấn định rõ ràng cách thức để trình bày những bản dự kiến ấy.

Điều 1285

Trong giới hạn của việc quản trị thông thường mà thôi, các người quản trị được phép biếu tặng những động sản không thuộc về di sản cố định, nhằm những mục đích đạo đức hoặc bác ái Kitô giáo.

Điều 1286

Các người quản trị tài sản phải:

10 tuân giữ đúng luật dân sự về lao động và đời sống xã hội trong việc thuê mướn nhân công, theo những nguyên tắc do Giáo Hội đề ra;

20 trả lương bổng cách công bằng và tươm tất cho công nhân đã ký hợp đồng làm việc, để họ có thể chu cấp thích đáng những nhu cầu của chính mình và của những người thân.

Điều 1287

§1. Những người quản trị bất cứ tài sản nào của Giáo Hội, dù là giáo sĩ hay giáo dân, mà không được miễn trừ cách hợp pháp khỏi quyền lãnh đạo của Giám Mục giáo phận, thì hằng năm buộc phải nộp bản tường trình cho Đấng Bản Quyền địa phương, để ngài trao cho hội đồng kinh tế xét duyệt; mọi tục lệ trái ngược đều bị hủy bỏ.

§2. Những người quản trị phải tường trình cho các tín hữu về việc sử dụng những tài sản mà những người này đã dâng cúng cho Giáo Hội, theo những quy tắc do luật riêng ấn định.

Điều 1288

Các người quản trị không được khởi tố và cũng không được tranh luận trước tòa án dân sự nhân danh pháp nhân công, nếu không được phép bằng văn bản của Đấng Bản Quyền riêng.

Điều 1289

Mặc dù không giữ chức vụ quản trị với danh nghĩa một giáo vụ, các người quản trị không được tự ý bỏ nhiệm vụ đã nhận; nếu Giáo Hội chịu một sự thiệt hại nào đó do việc rút lui này, thì họ phải bồi thường.

ĐỀ MỤC 3
CÁC KHẾ ƯỚC
VÀ NHẤT LÀ VIỆC CHUYỂN NHƯỢNG

Điều 1290

Những gì mà luật dân sự hiện hành trong một địa hạt ấn định về các hợp đồng nói chung hay nói riêng, và về những cách thức hết nghĩa vụ, phải được tuân giữ trong giáo luật, với những hiệu quả như trong luật dân sự, đối với quyền lãnh đạo của Giáo Hội, trừ khi những quy định ấy trái với luật Thiên Chúa hoặc trừ khi giáo luật đã dự liệu cách khác, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1547.

Điều 1291

Để chuyển nhượng thành sự những tài sản đã tạo thành di sản cố định của một pháp nhân công do sự chỉ định hợp pháp, và giá trị của những tài sản ấy vượt quá mức luật định, thì phải có phép của nhà chức trách có thẩm quyền chiếu theo quy tắc của luật.

Điều 1292

§1. Miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 638 §3, khi giá trị tài sản chuyển nhượng được dự kiến giữa mức tiền tối thiểu và tối đa, mà Hội Đồng Giám Mục phải ấn định cho miền của mình, thì nhà chức trách có thẩm quyền là người do quy chế riêng chỉ định, đối với những pháp nhân không thuộc quyền Giám Mục giáo phận; nếu không, nhà chức trách có thẩm quyền là Giám Mục giáo phận cùng với sự chấp thuận của hội đồng kinh tế và ban tư vấn, cũng như của những người liên hệ. Chính Giám Mục giáo phận cũng cần phải có sự ưng thuận của những người nói trên để chuyển nhượng tài sản của giáo phận.

§2. Tuy nhiên, nếu là trường hợp những tài sản có giá trị vượt mức tiền tối đa, hoặc trường hợp những tài sản đã được dâng cúng cho Giáo Hội do một lời khấn, hoặc trường hợp những tài sản có giá trị nghệ thuật hay lịch sử, thì còn buộc phải có phép của Tòa Thánh để việc chuyển nhượng được thành sự.

§3. Nếu tài sản chuyển nhượng có thể phân chia được, thì khi xin phép chuyển nhượng, phải nói rõ phần trước đây đã được chuyển nhượng rồi, nếu không, thì phép cho chuyển nhượng sẽ không có giá trị.

§4. Những ai phải đóng góp ý kiến hay phải ưng thuận trong việc chuyển nhượng tài sản không được góp ý hay ưng thuận trước khi am tường cặn kẽ về tình trạng kinh tế của pháp nhân có tài sản được dự định chuyển nhượng, cũng như về những việc chuyển nhượng đã được thực hiện rồi.

Điều 1293

§1. Hơn nữa, để chuyển nhượng tài sản có giá trị vượt mức tiền tối thiểu đã được ấn định, thì buộc:

10 phải có một lý do chính đáng, chẳng hạn như một sự cần thiết cấp bách, một lợi ích tỏ tường, việc đạo đức, bác ái hay bất cứ một lý do mục vụ quan trọng nào khác;

20 tài sản chuyển nhượng phải được các chuyên viên định giá trên văn bản.

§2. Để tránh thiệt hại cho Giáo Hội, phải giữ những điều đề phòng khác do quyền bính hợp pháp đã quy định.

Điều 1294

§1. Theo cách thông thường, không được chuyển nhượng một tài sản với giá thấp hơn giá trị đã được ghi trong bản định giá.

§2. Tiền thu được do việc chuyển nhượng phải được đầu tư cẩn thận nhằm sinh lợi cho Giáo Hội, hoặc được tiêu dùng cách khôn khéo phù hợp với những mục đích của việc chuyển nhượng.

Điều 1295

Các yêu sách chiếu theo quy tắc của điều 1291- 1294 phải được tuân giữ chẳng những trong việc chuyển nhượng, mà còn trong bất cứ dịch vụ nào khiến cho điều kiện di sản của pháp nhân có thể bị suy giảm, những quy chế của pháp nhân cũng phải được điều chỉnh hợp với những điều ấy.

Điều 1296

Nếu xảy ra trường hợp tài sản của Giáo Hội đã được chuyển nhượng không theo thể thức của giáo luật, nhưng việc chuyển nhượng lại có giá trị theo luật dân sự, thì sau khi đã chín chắn cân nhắc mọi sự, nhà chức trách có thẩm quyền quyết định có nên sử dụng tố quyền hay không và nên sử dụng tố quyền đối nhân hay đối vật, do ai sử dụng và sử dụng chống lại ai, để đòi lại những quyền lợi của Giáo Hội.

Điều 1297

Sau khi đã lưu ý tới những hoàn cảnh của địa phương, Hội Đồng Giám Mục ấn định những quy tắc về việc cho thuê mướn tài sản của Giáo Hội, nhất là về việc xin phép nhà chức trách có thẩm quyền của Giáo Hội.

Điều 1298

Không được bán tài sản của Giáo Hội cho chính những người quản trị tài sản ấy, hoặc cho những thân nhân của họ tính tới bậc thứ bốn thuộc họ máu hay họ kết bạn, và cũng không được cho những người ấy thuê mướn, nếu không có phép riêng bằng văn bản của nhà chức trách có thẩm quyền.

ĐỀ MỤC 4
CÁC THỆN Ý NÓI CHUNG
VÀ CÁC THIỆN QUỸ

Điều 1299

§1. Người nào có thể tự do định đoạn tài sản của mình chiếu theo luật tự nhiên và giáo luật, thì cũng có thể để lại tài sản nhằm những mục tiêu đạo đức, hoặc qua hành vi có giá trị khi còn sống hoặc qua hành vi có giá trị lúc đã chết.

§2. Trong những định đoạt có giá trị lúc đã chết nhằm lợi ích của Giáo Hội, phải tuân giữ hết sức có thể các thể thức của luật dân sự, nếu bỏ qua những thể thức này, phải thông báo cho những người kế thừa biết họ có nghĩa vụ buộc phải thi hành ý muốn của người lập di chúc.

Điều 1300

Các ý muốn của các tín hữu dâng cúng hoặc để lại tài sản nhằm những mục tiêu đạo đức, hoặc qua hành vi có giá trị khi còn sống hoặc qua hành vi có giá trị lúc đã chết, một khi đã được chấp nhận cách hợp pháp, phải được thi hành hết sức cẩn thận ngay cả về cách thức quản trị và sử dụng tài sản, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1301 §3.

Điều 1301

§1. Đấng Bản Quyền là người thi hành tất cả mọi thiện ý, dù là qua hành vi có giá trị khi còn sống, dù là qua hành vi có giá trị lúc đã chết.

§2. Do quyền này, Đấng Bản Quyền có thể phải theo dõi việc thi hành thiện ý, kể cả bằng việc thanh tra, và các người thi hành khác buộc phải tường trình cho ngài, sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ của mình.

§3. Những điều khoản được thêm vào ý muốn cuối cùng ngược với quyền này của Đấng Bản Quyền phải được coi như không có.

Điều 1302

§1. Người nào đã nhận các tài sản theo hình thức tín thác nhằm những mục tiêu đạo đức bằng hành vi có giá trị khi còn sống hoặc do di chúc, phải thông báo với Đấng Bản Quyền biết việc tín thác cho mình, và phải chỉ rõ cho ngài mọi động sản hay bất động sản được nhận như thế, với những nghĩa vụ kèm theo, nhưng nếu người dâng cúng đã minh nhiên và tuyệt đối cấm thông báo, thì người ấy không được nhận sự tín thác di sản.

§2. Đấng Bản Quyền phải yêu cầu để các tài sản tín thác ở nơi an toàn, và phải quan tâm đến việc thi hành thiện ý chiếu theo quy tắc của điều 1301.

§3. Đối với các tài sản tín thác được trao phó cho một thành viên của một hội dòng hay của một tu đoàn tông đồ, nếu các tài sản được dành cho một nơi hoặc cho một giáo phận, hoặc cho dân chúng của nơi hay của giáo phận ấy, hoặc dành cho những mục đích đạo đức, thì Đấng Bản Quyền được nói đến ở §§1 và 2 là Đấng Bản Quyền địa phương; nếu không, thì Đấng Bản Quyền là Bề Trên cấp cao trong một hội dòng giáo sĩ thuộc luật giáo hoàng và trong các tu đoàn tông đồ giáo sĩ thuộc luật giáo hoàng, hoặc trong các hội dòng khác, thì Đấng Bản Quyền là Đấng Bản Quyền riêng của chính thành viên ấy.

Điều 1303

§1. Trong luật, danh xưng thiện quỹ bao hàm:

10 các thiện quỹ tự trị, tức là các tập hợp sự vật dành cho các mục đích được nói đến ở điều 114 §2 và được nhà chức trách có thẩm quyền của Giáo Hội thiết lập thành pháp nhân;

20 các thiện quỹ không tự trị, tức là các tài sản vật chất được ban tặng cho một pháp nhân công bằng bất cứ cách nào, với nghĩa vụ dùng các hoa lợi hằng năm để cử hành Thánh Lễ và để thực hiện các công việc khác của Giáo Hội đã được xác định, hoặc để theo đuổi các mục đích được nói ở điều 114 §2, trong một thời gian khá lâu mà luật riêng phải ấn định.

§2. Một khi thời gian được quy định đã mãn, các tài sản của một thiện quỹ không tự trị phải được dành cho tổ chức được nói đến ở điều 1274 §1, nếu đã được trao phó cho một pháp nhân thuộc quyền Giám Mục giáo phận, trừ khi người tặng đã minh nhiên bày tỏ ý khác; nếu không, các tài sản được dành cho chính pháp nhân đó.

Điều 1304

§1. Để một pháp nhân có thể nhận một thiện quỹ cách thành sự, buộc phải có phép bằng văn bản của Đấng Bản Quyền; Đấng Bản Quyền này không được ban phép ấy trước khi thấy rõ cách hợp pháp là pháp nhân có thể chu toàn cả nghĩa vụ mới sắp lãnh nhận lẫn những nghĩa vụ đã lãnh nhận; trước hết, ngài phải liệu sao cho hoa lợi tương ứng cách chính xác với những nghĩa vụ kèm theo thiện quỹ, theo phong tục của mỗi địa phương hoặc mỗi miền.

§2. Luật riêng phải ấn định thêm những điều kiện liên quan đến việc thiết định và lãnh nhận các thiện quỹ.

Điều 1305

Tiền bạc và các động sản, được cho với danh nghĩa tặng vật, phải được cất ngay ở một nơi an toàn được Đấng Bản Quyền phê chuẩn, để món tiền đó hay giá trị của những động sản đó được bảo toàn và, theo sự phán đoán khôn ngoan của Đấng Bản Quyền ấy, sau khi đã tham khảo ý kiến của những người liên hệ và của hội đồng kinh tế của ngài, được đầu tư sớm hết sức một cách cẩn thận và hữu ích để làm lợi cho quỹ đó, có ghi chú rõ ràng và chi tiết về những nghĩa vụ.

Điều 1306

§1. Các thiện quỹ, dù được thiết lập bằng miệng, cũng phải được ghi trên giấy tờ.

§2. Một văn bản phải được lưu trữ an toàn tại văn khố của tòa giám mục, một bản khác trong văn khố của pháp nân liên hệ đến thiện quỹ này.

Điều 1307

§1. Miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của các điều 1300-1302 và 1287, phải làm một bản kê khai những trách nhiệm do thiện quỹ và phải niêm yết ở nơi dễ thấy để khỏi quên lãng các nghĩa vụ phải chu toàn.

§2. Ngoài cuốn sổ được nói đến ở điều 958 §1, buộc phải có một sổ khác, trong đó phải ghi từng nghĩa vụ, việc thi hành nghĩa vụ cũng như những của dâng cúng; cha sở hay cha quản nhiệm buộc phải giữ cuốn sổ ấy.

Điều 1308

§1. Việc giảm thiểu nghĩa vụ dâng Thánh Lễ được dành cho Tông Tòa, và chỉ được thực hiện vì một lý do chính đáng và cần thiết, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định sau đây:

§2. Đấng Bản Quyền có thể giảm thiểu nghĩa vụ dâng Thánh Lễ vì hoa lợi đã sút giảm, nếu điều đó được minh nhiên dự liệu trong những văn bản thành lập.

§3. Giám Mục giáo phận có quyền giảm thiểu những Thánh Lễ phải dâng do của di tặng độc lập hay do quỹ bằng bất cứ cách nào, theo mức dâng cúng hiện hành cách hợp pháp trong giáo phận, vì hoa lợi sút giảm và bao lâu lý do này còn kéo dài, miễn là không ai bị buộc phải dâng cúng thêm và thực tế cũng không ai có thể bị cưỡng bách làm như vậy.

§4. Giám Mục giáo phận có quyền giảm thiểu những nghĩa vụ hay những của di tặng buộc một tổ chức Giáo Hội phải dâng Thánh Lễ, nếu hoa lợi đã không đủ để tổ chức ấy được đạt mục tiêu của mình cách hữu hiệu.

§5. Vị Điều Hành tối cao của một hội dòng giáo sĩ thuộc luật giáo hoàng có cùng những quyền được nói đến ở §§3 và 4.

Điều 1309

Khi có một lý do cân xứng, các quyền bính được nói đến ở điều 1308 còn có quyền chuyển các nghĩa vụ dâng lễ sang những ngày, nhà thờ và bàn thờ khác với ngày giờ và nơi chốn đã được quy định trong văn bản tặng lập.

Điều 1310

§1. Đấng Bản Quyền có thể giảm thiểu, điều hành, chuyển đổi ý muốn của các tín hữu đối với các mục đích đạo đức, nếu người tặng lập ban cho ngài quyền đó cách minh nhiên, và ngài chỉ thực hiện quyền đó vì một lý do chính đáng và cần thiết mà thôi.

§2. Nếu không thể thi hành được những nghĩa vụ mà quỹ bắt buộc, vì hoa lợi sút giãm hoặc vì một lý do nào khác, mà không do lỗi của các người quản trị, Đấng Bản Quyền có thể giảm thiểu những nghĩa vụ ấy một cách hợp tình hợp lý, sau khi đã tham khảo ý kiến của những người liên hệ và của hội đồng kinh tế của mình, và phải duy trì ý muốn của người tặng lập cách tốt nhất có thể; ngoại trừ việc giảm thiểu nghĩa vụ dâng Thánh Lễ được chi phối bởi những quy định của điều 1308.

§3. Trong các trường hợp khác, phải thượng cầu lên Tông Tòa.

Trở về Mục Lục