You are here

Quyển VI: Chế Tài Trong Giáo Hội

QUYỂN VI
CHẾ TÀI TRONG GIÁO HỘI

PHẦN I
TỘI PHẠM VÀ HÌNH PHẠT NÓI CHUNG

ĐỀ MỤC 1
VIỆC TRỪNG PHẠT
CÁC TỘI PHẠM NÓI CHUNG

Điều 1311

Giáo Hội có quyền bẩm sinh và riêng biệt cưỡng chế các Kitô hữu phạm pháp bằng những chế tài hình sự.

Điều 1312

§1. Những chế tài hình sự trong Giáo hội là:

10 các dược hình hay vạ, được liệt kê trong các điều 1331-1333;

20 các thục hình được nói đến ở điều 1336.

§2. Luật còn có thể thiết lập những thục hình khác khiến cho người Kitô hữu không được hưởng một lợi ích thiêng liêng hay vật chất nào đó, và là những thục hình phù hợp với mục đích siêu nhiên của Giáo Hội.

§3. Ngoài ra, còn được dùng những dược hình và những việc sám hối, những dược hình đặc biệt là để ngăn ngừa tội phạm, còn việc sám hối đúng hơn là để thay thế hay gia tăng một hình phạt.

ĐỀ MỤC 2
LUẬT HÌNH SỰ
VÀ MỆNH HÌNH SỰ

Điều 1313

§1. Nếu luật được thay đổi sau khi tội đã phạm thì phải áp dụng luật nào lợi hơn cho phạm nhân.

§2. Nếu luật sau khi bãi bỏ một luật, hay chỉ bãi bỏ một hình phạt. Thì hình phạt này chấm dứt tức khắc.

Điều 1314

Thường thường, hình phạt là hậu kết, nghĩa là tội nhân không phải chịu hình phạt bao lâu chưa bị tuyên bố; còn hình phạt là tiền kết, nghĩa là phạm nhân phải chịu hình phạt tức khắc do chính sự kiện phạm tội, nếu luật và mệnh lệnh minh nhiên ấn định như thế.

Điều 1315

§1. Người nào có quyền lập pháp cũng có thể ban hành những luật hình sự, nhưng cũng có thể dùng luật của mình để thêm một hình phạt thích đáng vào một luật của Thiên Chúa hay một luật của Giáo Hội do một nhà chức trách cấp trên ban hành, miễn là vẫn tôn trọng các giới hạn của thẩm quyền đối địa hay đối nhân của mình.

§2. Chính luật có thể ấn định hình phạt hoặc để cho thẩm phán xác định theo sự đánh giá khôn ngoan của mình.

§3. Luật địa phương có thể thêm các hình phạt khác nữa, ngay cả khi một luật phổ quát đã thiết lập những hình phạt cho một tội phạm nào đó; tuy nhiên đừng làm như vậy, trừ khi có nhu cầu rất nghiêm trọng. Còn nếu luật phổ quát ngăm đe ra một hình phạt bất định hay tùy ý, thì luật địa phương cũng có thể thiết lập thay vào đó một hình phạt nhất định hay bắt buộc.

Điều 1316

Các Giám Mục giáo phận phải liệu sao để trong một nước hay một miền, những luật hình sự, nếu cần phải ban hành, được đồng nhất với nhau trong mức độ có thể.

Điều 1317

Chỉ nên thiết lập các hình phạt theo mức độ thực sự cần thiết để hỗ trợ kỷ luật Giáo Hội một cách thích hợp hơn. Tuy nhiên, luật địa phương không thể thiết lập hình phạt sa thải khỏi bậc giáo sĩ.

Điều 1318

Nhà lập pháp đừng dùng những hình phạt tiền kết để ngăm đe, trừ khi một vài trường hợp đặc biệt cố tình phạm có thể gây ra một gương xấu nặng hơn hoặc những hình phạt hậu kết không thể trừng phạt những tội phạm đó cách hữu hiệu; tuy nhiên, chỉ nên thiết lập các vạ, nhất là vạ tuyệt thông, một cách hết sức hạn chế và chỉ áp dụng cho những tội phạm rất nặng.

Điều 1319

§1. Do quyền lãnh đạo, một người có thể áp đặt những mệnh lệnh ở tòa ngoài đến mức độ nào, thì bằng mệnh lệnh cũng có thể dùng những hình phạt nhất định để ngăm đe đến mức độ ấy, trừ những thục hình vĩnh viễn.

§2. Chỉ được đưa ra một mệnh lệnh hình sự, sau khi đã chín chắn cân nhắc sự việc, và miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của các điều 1317 và 1318 về luật địa phương.

Điều 1320

Trong tất cả những lĩnh vực mà các tu sĩ phải tùy thuộc Đấng Bản Quyền địa phương, thì họ cũng có thể bị ngài cưỡng chế bằng hình phạt.

ĐỀ MỤC 3
CHỦ THỂ BỊ TRỪNG PHẠT

Điều 1321

§1. Không ai bị trừng phạt, nếu việc vi phạm luật hay mệnh lệnh bên ngoài không thể quy trách cho người đó cách nặng nề do cố tình hay do lầm lẫn.

§2. Người nào cố tình vi phạm luật hay mệnh lệnh thì phải chịu hình phạt do luật hay mệnh lệnh ấn định, nhưng người nào vi phạm luật hay mệnh lệnh vì thiếu sự thận trọng cần thiết thì không bị phạt, trừ khi luật hay mệnh lệnh quy định cách khác.

§3. một khi đã có sự vi phạm bên ngoài, thì việc quy trách nhiệm được suy đoán, trừ khi đã rõ cách khác.

Điều 1322

Những người thường xuyên không sử dụng được trí khôn, thì dù họ vi phạm luật hay mệnh lệnh trong khi họ có vẻ sáng suốt, họ cũng được kể là người không có khả năng phạm tội.

Điều 1323

Những người sau đây vi phạm luật hay mệnh lệnh thì cũng không bị một hình phạt nào:

10 người chưa đủ mười sáu tuổi trọn;

20 người không biết là mình vi phạm một luật hay một mệnh lệnh, mà không do lỗi của mình, tuy nhiên, sự vô ý và lầm lẫn được đồng hóa với sự không biết;

30 người đã hành động dưới áp lực của bạo lực thể lý hay do một trường hợp ngẫu nhiên không thể thấy trước được, hoặc dù có thấy trước cũng không thể chống lại được;

40 người đã bị cưỡng ép hành động do sợ hãi nghiêm trọng dù chỉ có tính cách tương đối thôi, hoặc do nhu cầu thúc đẩy, hoặc để tránh một điều bất lợi nghiêm trọng, nhưng trừ trường hợp hành động ấy thực chất là xấu hoặc gây thiệt hại cho các linh hồn;

50 người đã hành động trong tư thế tự vệ chính đáng chống lại một kẻ tấn công mình hay một người khác cách bất công, tuy vẫn giữ sự chừng mực cần thiết;

60 người không sử dụng được trí khôn, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của các điều 1324 §1, 20 và 1325;

70 người đã nghĩ rằng mình ở một trong những hoàn cảnh nói đến ở 40 hay 50, mà không do lỗi của mình.

Điều 1324

§1. Phạm nhân không được miễn khỏi hình phạt, nhưng hình phạt do luật hay mệnh lệnh ấn định phải được giảm nhẹ hay được thay thế bằng việc sám hối, nếu tội phạm đã xảy ra do:

10 người ấy chỉ sử dụng trí khôn cách bất toàn;

20 người ấy không sử dụng được trí khôn do say rượu hay do thác loạn tâm thần khác tương tự vì lỗi của mình;

30 người ấy hành động do một đam mê mãnh liệt dù đam mê ấy không đi trước và không cản trở bất cứ sự suy tính nào của lý trí cũng như bất cứ sự ưng thuận nào của ý chí, và miễn là người đó không được cố tình kích thích hay nuôi dưỡng chính đam mê ấy;

40 người ấy là vị thành niên đã đủ mười sáu tuổi trọn;

50 người ấy bị cưỡng ép hành động do một sự sợ hãi nghiêm trọng, dù chỉ có tính cách tương đối mà thôi, hoặc do nhu cầu thúc đẩy, hoặc để tránh một điều bất lợi nghiêm trọng, nếu tội phạm thực chất là xấu hoặc gây thiệt hại cho các linh hồn;

60 người ấy đã không giữ được chừng mực cần thiết khi hành động trong tư thế tự vệ chính đáng chống lại kẻ tấn công mình hay một người khác cách bất công;

70 người ấy chống lại kẻ khiêu khích cách nghiêm trọng và bất công;

80 người ấy đã tin rằng mình ở vào một trong những hoàn cảnh được nói đến ở điều 1323, 40 hay 50, do lầm lẫn vì lỗi của mình;

90 người ấy không biết là có hình phạt kèm theo luật hay mệnh lệnh, mà không do lỗi của mình;

100 người ấy đã hành động mà không bị quy trách nhiệm hoàn toàn, miễn là sự quy trách nhiệm này vẫn còn nặng.

§2. Thẩm phán cũng có thể làm như vậy, nếu có một hoàn cảnh nào khác làm cho tội phạm được giảm nhẹ.

§3. trong những hoàn cảnh được nói đến ở §1, phạm nhân không phải chịu một hình phạt tiền kết.

Điều 1325

Sự không biết vì lười biếng hay vì giả đò hay vì cố tình, không bao giờ được xét đến khi áp dụng những quy định của các điều 1323 và 1324; cũng không xét đến sự say rượu hay những thác loạn tâm thần khác, nếu chủ ý gây ra để thực hiện tội phạm hay để chữa mình, và đam mê được cố tình kích thích hay nuôi dưỡng.

Điều 1326

§1. Thẩm phán có thể trừng phạt bằng một hình phạt nặng hơn hình phạt mà luật hay mệnh lệnh đã ấn định:

10 người nào sau khi bị kết án hay sau khi hình phạt đã được tuyên bố vẫn tiếp tục phạm tội, đến nỗi hoàn cảnh cho phép ước đoán cách khôn ngoan rằng người ấy ngoan cố trong ý xấu;

20 người có phẩm chức, hay người đã lạm dụng quyền hành hoặc chức vụ của mình để phạm tội;

30 phạm nhân nào đã tiên liệu biến cố, nhưng đã không thận trọng để tránh như bất cứ một người cẩn thận nào cũng phải làm, cho dù một hình phạt đã được thiết lập đối với một tội phạm cố tình.

§2. Trong những trường hợp được nói đến ở §1, nếu hình phạt được dự liệu là tiền kết, thì có thể thêm vào hình phạt ấy một hình phạt khác hay một việc sám hối.

Điều 1327

Ngoài những trường hợp nói đến ở các điều 1323-1326, luật địa phương có thể ấn định những tình tiết tha hình phạt, giảm khinh hình phạt hay gia trọng hình phạt, hoặc bằng một quy tắc tổng quát, hoặc đối với những tội phạm riêng. Cũng vậy, một mệnh lệnh có thể ấn định những tình tiết tha hình phạt mà mệnh lệnh dự liệu, giảm khinh hình phạt hay gia trọng hình phạt.

Điều 1328

§1. Người nào đã làm hay đã bỏ một hành vi để thực hiện tội phạm, nhưng đã không hoàn thành tội phạm được ngoài ý muốn, thì không phải chịu hình phạt đã được dự liệu đối với tội phạm đã được hoàn thành, trừ khi luật hay mệnh lệnh quy định cách khác về điều đó.

§2. Nếu những hành vi hay những sự thiếu sót tự bản chất dẫn đến việc thực hiện tội phạm, phạm nhân có thể bị buộc phải làm một việc sám hối hay phải chịu một dược hình, trừ khi đương sự tự ý không tiếp tục thực hiện tội phạm mà mình đã bắt đầu. Tuy nhiên, nếu đã xảy ra một gương xấu hay một thiệt hại nặng nề khác hay một nguy cơ nào đó, thì mặc dầu đã tự ý không tiếp tục nữa, đương sự vẫn có thể phải chịu một hình phạt chính đáng, nhưng nhẹ hơn hình phạt đã được dự liệu cho tội phạm đã được hoàn thành.

Điều 1329

§1. Những người đồng lõa phạm tội với chủ ý chung là thực hiện một phạm và không được luật hay mệnh lệnh minh nhiên nói đến, thì phải chịu cùng những hình phạt như phạm nhân chính, nếu những hình phạt hậu kết đã được thiết lập để chống lại phạm nhân, hoặc phải chịu những hình phạt khác cũng nặng như thế hoặc những hình phạt nhẹ hơn.

§2. Những người đồng lõa không được luật hay mệnh lệnh nói đến phải chịu hình phạt tiền kết gắn liền với tội phạm, trong trường hợp tội phạm đã không thể được thực hiện, nếu không có sự tham gia của họ, và nếu hình phạt tự bản chất có thể áp dụng cho họ; bằng không, họ có thể phải chịu những hình phạt hậu kết.

Điều 1330

Một tội phạm hệ tại ở một lời tuyên bố hay một sự bộc lộ khác về ý muốn, về học thuyết hay về kiến thức, thì không được coi là một tội phạm đã được hoàn thành, nếu không ai nhận thức được lời tuyên bố hay sự bộc lộ ấy.

ĐỀ MỤC 4
CÁC HÌNH PHẠT
VÀ CÁC SỰ TRỪNG PHẠT KHÁC

CHƯƠNG 1
DƯỢC HÌNH HAY VẠ

Điều 1331

§1. Cấm người bị vạ tuyệt thông:

10 tham dự cuộc cử hành Hiến Tế Thánh Thể và bất cứ nghi lễ phụng vụ nào khác bằng bất cứ cách nào với tư cách là thừa tác viên;

20 cử hành các bí tích hay các á bí tích, và lãnh nhận các bí tích;

30 thi hành các giáo vụ, các thừa tác vụ hay bất cứ nhiệm vụ nào, hoặc thực hiện những hành vi lãnh đạo.

§2. Nếu vạ tuyệt thông đã được tuyên kết hay đã được tuyên bố, phạm nhân:

10 phải bị loại ra, nếu muốn hành động nghịch lại quy định của §1, 10, hoặc hành động phụng vụ phải bị đình chỉ, trừ khi có một lý do quan trọng chống lại điều đó;

20 thực hiện vô hiệu những hành vi lãnh đạo mà chiếu theo quy tắc của §1, 30 đương sự không được phép làm;

30 không được phép hưởng những đặc ân đã được ban cho trước đây;

40 không thể lãnh nhận cách thành sự một phẩm chức, một giáo vụ, hay một nhiệm vụ nào khác trong Giáo Hội;

50 không được chiếm hữu cho mình các lợi lộc của một phẩm chức, một chức vụ, của bất cứ nhiệm vụ nào, hay của một khoản trợ cấp mà đương sự có được trong Giáo Hội.

Điều 1332

Người bị vạ cấm chế thì bị ràng buộc bởi những biện pháp được nói đến ở điều 1331 §1, 10 và 20; nếu vạ cấm chế đã được tuyên kết, hoặc đã được tuyên bố, thì phải giữ những quy định của điều 1331 §2, 10.

Điều 1333

§1. Vạ huyền chức chỉ chi phối các giáo sĩ mà thôi, vạ này cấm:

10 hoặc tất cả, hoặc một vài hành vi thuộc quyền thánh chức;

20 hoặc tất cả, hoặc một vài hành vi thuộc quyền lãnh đạo;

30 thi hành tất cả hoặc một số quyền lợi hay nghĩa vụ gắn liền với một giáo vụ.

§2. Trong luật hay trong mệnh lệnh có thể ấn định rằng, sau khi án lệnh đã được tuyên kết hay đã được tuyên bố, người bị vạ huyền chức không thể thực hiện cách thành sự những hành vi lãnh đạo.

§3. Lệnh cấm không bao giờ chi phối:

10 những giáo vụ hay quyền lãnh đạo nào không thuộc quyền bính của vị Bề Trên thiết lập hình phạt;

20 quyền cư trú, nếu phạm nhân có quyền ấy chiếu theo chức vụ;

30 quyền quản trị những tài sản được gắn liền với chức vụ của chính người bị vạ huyền chức, nếu hình phạt là tiền kết.

§4. Vạ huyền chức cấm nhận hoa lợi, lương bổng, trợ cấp, hay bất cứ các thứ khác tương tự, và bao hàm nghĩa vụ phải hoàn lại tất cả những gì đã nhận được cách bất hợp pháp, dù là ngay tình.

Điều 1334

§1. Trong những giới hạn được điều luật trên đây ấn định, phạm vi của vạ huyền chức được chính luật hoặc mệnh lệnh, hoặc án lệnh, hoặc sắc lệnh tuyên kết hình phạt quy định.

§2. Luật, chứ không phải mệnh lệnh, có thể thiết lập một vạ huyền chức tiền kết, mà không có một lời giải thích hay một giới hạn nào được thêm vào, một hình phạt như vậy có tất cả mọi hiệu quả được nói đến ở điều 1333 §1.

Điều 1335

Nếu một vạ cấm cử hành các bí tích hay á bí tích hoặc cấm thi hành các hành vi lãnh đạo, thì lệnh cấm ấy bị đình chỉ, mỗi khi điều đó cần thiết để giúp các tín hữu lâm cơn nguy tử; nếu vạ tiền kết chưa được tuyên bố thì lệnh cấm cũng bị đình chỉ, mỗi khi có tín hữu xin lãnh nhận một bí tích hay một á bí tích, hay một hành vi lãnh đạo; tín hữu được phép xin điều đó vì bất cứ lý do chính đáng nào.

CHƯƠNG 2
THỤC HÌNH

Điều 1336

§1. Thục hình có thể chi phối một phạm nhân hoặc suốt đời hoặc trong một thời gian được ấn định trước, hoặc trong một thời gian vô hạn, ngoài những hình phạt mà luật có thể đặt ra, thục hình gồm những loại sau đây:

10 cấm hay buộc phải cư ngụ tại một nơi hay một địa hạt nhất định;

20 tước đoạt một quyền bính, một giáo vụ, một nhiệm vụ, một quyền lợi, một đặc ân, một năng quyền, một ân huệ, một danh hiệu, một phù hiệu, dù chỉ là thuần túy danh dự;

30 cấm thi hành những điều kê khai ở 20 hay cấm thi hành những điều ấy trong một nơi hay ngoài một nơi nhất định; những cấm đoán trên không bao giờ có thể trở thành vô hiệu nếu không tuân theo;

40 thuyên chuyển sang một giáo vụ khác với tính cách hình phạt;

50 sa thải khỏi bậc giáo sĩ.

§2. Chỉ có những thục hình được nêu lên ở §1, 30 mới có thể là những hình phạt tiền kết.

Điều 1337

§1. Vạ cấm cư ngụ tại một nơi hay một địa hạt nhất định có thể chi phối các giáo sĩ hoặc các tu sĩ, nhưng lệnh buộc cư ngụ ở đó có thể chi phối các giáo sĩ triều và, trong giới hạn của hiến pháp, các tu sĩ.

§2. Để tuyên kết lệnh buộc cư ngụ tại một nơi hay trong một địa hạt nhất định, cần phải có sự chấp thuận của Đấng Bản Quyền địa phương ấy, trừ khi chỗ đó có một nhà dành cho cả giáo sĩ ngoài giáo phận để đền tội hay sửa mình.

Điều 1338

§1. Những việc tước đoạt và cấm đoán được nói đến ở điều 1336 §1, 20 và 30 không bao giờ chi phối những quyền bính, giáo vụ, nhiệm vụ, quyền lợi, đặc ân, năng quyền, ân huệ, danh hiệu, phù hiệu nào không ở dưới quyền bính của vị Bề Trên thiết lập hình phạt.

§2. không thể ra vạ tước đoạt quyền thánh chức được, nhưng chỉ có thể cấm thi hành chức ấy hay một vài hành vi của chức ấy; cũng vậy, không thể ra và tước đoạt bằng cấp đại học được.

§3. Đối với những điều cấm đã được nói đến ở điều 1336 §1, 30 phải tuân giữ quy tắc được nói đến ở điều 1335 dành cho các vạ.

CHƯƠNG 3
NHỮNG DƯỢC HÌNH
VÀ NHỮNG VIỆC SÁM HỐI

Điều 1339

§1. Người nào sống trong dịp sắp thực hiện một tội phạm, hoặc bị nghi ngờ nghiêm trọng là đã thực hiện một tội phạm sau khi được điều tra kỹ lưỡng, thì Đấng Bản Quyền có thể đích thân hay nhờ người khác cảnh cáo người ấy.

§2. Theo cách thức thích hợp với hoàn cảnh riêng của con người và sự kiện, Đấng Bản Quyền cũng có thể khiển trách người nào đã gây ra một gương xấu hoặc đã làm xáo trộn trật tự cách nghiêm trọng do lối ứng xử của họ.

§3. Phải luôn luôn giữ lại chứng từ chắc chắn về việc cảnh cáo hay khiển trách, ít là bằng một tài liệu nào đó được giữ trong văn khố mật của tòa giám mục.

Điều 1340

§1. Việc sám hối có thể bị áp đặt ở tòa ngoài hệ tại việc thực hiện một việc tôn giáo, đạo dức, hay bác ái.

§2. Không bao giờ được áp đặt một việc sám hối công khai cho một sự vi phạm kín đáo.

§3. Theo sự khôn ngoan của mình, Đấng Bản Quyền có thể thêm những việc sám hối vào dược hình cảnh cáo hay khiển trách.

ĐỀ MỤC 5
ÁP DỤNG HÌNH PHẠT

Điều 1341

Đấng Bản Quyền chỉ nên xúc tiến thủ tục tư pháp hay hành chính để tuyên kết hay tuyên bố một hình phạt, khi đã chắc chắn rằng việc sửa chữa trong tình huynh đệ, việc khiển trách hay các phương thế khác trong đường lối mục vụ của ngài không thể sửa chữa gương xấu, tái lập công lý và cải thiện phạm nhân một cách đầy đủ được.

Điều 1342

§1. Mỗi khi có những lý do chính đáng ngăn cản việc tố tụng tại tòa, thì hình phạt có thể được tuyên kết hay tuyên bố bằng sắc lệnh ngoài toà; tuy nhiên, các dược hình và các việc sám hối có thể được áp dụng bằng sắc lệnh trong bất cứ trường hợp nào.

§2. Sắc lệnh không thể tuyên kết hay tuyên bố những hình phạt chung thân và những hình phạt nào mà luật hay mệnh lệnh thiết lập đã cấm áp dụng bằng sắc lệnh.

§3. Những gì luật hay mệnh lệnh nói về thẩm phán liên quan tới việc tuyên kết hay tuyên bố một hình phạt trong việc xét xử, phải được áp dụng cho vị Bề Trên nào dùng sắc lệnh ngoài tòa để tuyên kết hay tuyên bố một hình phạt, trừ khi đã rõ cách khác hoặc trừ khi đó là những quy định chỉ liên quan đến thủ tục mà tôi.

Điều 1343

Nếu luật hay mệnh lệnh cho thẩm phán quyền áp dụng hay không áp dụng hình phạt, thì thẩm phán cũng có thể giảm bớt hình phạt hay thay thế hình phạt bằng một việc sám hối, tùy theo lương tâm và sự khôn ngoan của mình.

Điều 1344

Mặc dù luật dùng những từ ngữ có tính cách ra lệnh, thẩm phán có thể tùy lương tâm và sự khôn ngoan của mình:

10 hoãn việc tuyên kết hình phạt đến một lúc nào thuận tiện hơn, nếu thấy trước rằng việc trừng phạt phạm nhân quá vội vàng sẽ gây ra những tác hại lớn hơn;

20 bỏ qua việc tuyên kết hình phạt, hoặc tuyên kết một hình phạt nhẹ hơn, hoặc áp dụng một việc sám hối, nếu phạm nhân đã sửa mình và đã sửa chữa gương xấu, hoặc nếu chính phạm nhân đã bị quyền bính dân sự phạt đủ rồi, hoặc thấy trước là phạm nhân sẽ bị phạt như vậy;

30 đình hoãn nghĩa vụ thực hiện hình phạt thục tội, nếu phạm nhân phạm tội lần đầu tiên sau khi đã sống một cuộc đời chính trực và nếu không cần phải sửa chữa gương xấu gấp; tuy nhiên, nếu phạm nhân thực hiện một tội phạm mới trong thời hạn được chính thẩm phán ấn định, thì phạm nhân phải chịu hình phạt của cả hai tội phạm, trừ khi trong thời gian ấy, thời hiệu của tố quyền hình sự đối với tội phạm trước đã trôi qua.

Điều 1345

Mỗi khi một phạm nhân chỉ sử dụng được trí khôn một cách bất toàn, hay đã thực hiện một tội phạm, do sợ hãi, hoặc do nhu cầu, hoặc do đam mê, do say rượu, hoặc do bất cứ một thác loạn tâm thần nào khác tương tự, thì thẩm phán cũng có thể bỏ qua việc tuyên kết một sự trừng phạt nào đó, nếu nhận thấy là có thể dùng một phương thế tốt hơn để cải thiện phạm nhân.

Điều 1346

Mỗi khi phạm nhân đã thực hiện nhiều tội phạm, nếu sự chồng chất các hình phạt hậu kết có vẻ quá nặng, thì thẩm phán có quyền giảm bớt các hình phạt trong những giới hạn hợp tình hợp lý, tùy theo sự thẩm định khôn ngoan của mình.

Điều 1347

§1. Không thể tuyên kết một vạ cách thành sự, nếu trước đó phạm nhân đã không được cảnh cáo ít là một lần để chấm dứt sự ngoan cố của mình, và nếu đã dành cho đương sự một thời gian thích hợp để hối cải.

§2. Phải kể như là phạm nhân đã hết ngoan cố, khi phạm nhân thật lòng hối hận về tội phạm của mình, và hơn nữa đã sửa chữa các thiệt hại và gương xấu cách xứng hợp, hay ít là đã nghiêm chỉnh hứa làm điều ấy.

Điều 1348

Khi một phạm nhân không bị buộc tội hay không bị tuyên kết một hình phạt nào cả, thì Đấng Bản Quyền có thể quan tâm đến lợi ích của đương sự cũng như đến công ích bằng việc cảnh cáo thích hợp và bằng những phương thế khác của lòng ưu tư mục vụ, hay cả bằng những dược hình, nếu sự việc đòi hỏi điều đó.

Điều 1349

Nếu một hình phạt không được xác định và nếu luật không dự liệu cách khác, thì thẩm phán không được ra những hình phạt nặng hơn, nhất là không được ra những vạ, trừ khi sự nghiêm trọng của vấn đề đòi hỏi điều đó cách tuyệt đối; tuy nhiên, thẩm phán không được tuyên kết những hình phạt chung thân.

Điều 1350

§1. Khi tuyên kết hình phạt cho một giáo sĩ, luôn phải liệu sao cho đương sự không thiếu những phương tiện cần thiết cho một cuộc sống xứng đáng, trừ trường hợp bị sa thải khỏi bậc giáo sĩ.

§2. Tuy nhiên, nếu một giáo sĩ nào bị sa thải khỏi bậc giáo sĩ đang sống trong sự bần cùng thật sự do hình phạt ấy, thì Đấng Bản Quyền phải liệu giúp đỡ đương sự cách tốt nhất có thể.

Điều 1351

Hình phạt chi phối phạm nhân ở khắp mọi nơi, ngay cả khi người thiết lập hay tuyên kết hình phạt hết quyền, trừ khi luật đã minh nhiên dự liệu cách khác.

Điều 1352

§1. Nếu một hình phạt cấm lãnh nhận các bí tích hay á bí tích, vạ cấm cũng bị đình chỉ bao lâu phạm nhân còn ở trong tình trạng nguy tử.

§2. Khi một hình phạt tiền kết chưa được công bố hay chưa được công khai tại nơi phạm nhân cư ngụ, thì nghĩa vụ tuân giữ hình phạt ấy bị đình chỉ toàn bộ hay một phần, trong mức độ phạm nhân không thể tuân giữ nghĩa vụ ấy mà không gặp nguy cơ gây ra gương xấu nghiêm trọng hoặc bị mất thanh danh.

Điều 1353

Việc kháng cáo hay thượng cầu chống lại những án lệnh của tòa án hoặc những sắc lệnh tuyên kết hay tuyên bố một hình phạt điều có hiệu lực đình chỉ.

ĐỀ MỤC 6
SỰ CHẤM DỨT CỦA HÌNH PHẠT

Điều 1354

§1. Ngoài những vị được nêu lên ở các điều 1355-1356, tất cả những người có thể miễn chuẩn một luật có kèm theo một hình phạt, hay những người có thể miễn trừ một mệnh lệnh ngăm đe một hình phạt, cũng đều có quyền tha hình phạt ấy.

§2. Ngoài ra, luật hay mệnh lệnh thiết lập một hình phạt cũng có thể ban cho những người khác quyền tha hình phạt ấy.

§3. Nếu tông tòa dành riêng cho mình hay dành cho những người khác quyền tha hình phạt, thì sự dành riêng ấy phải được giải thích theo nghĩa hẹp.

Điều 1355

§1. Các vị sau đây có thể tha hình phạt do luật thiết lập, nếu hình phạt đã được tuyên kết hay đã được tuyên bố, miễn là hình phạt không dành riêng cho Tông Toà:

10 Đấng Bản Quyền đã khởi tố trước tòa để tuyên kết hay tuyên bố hình phạt, hoặc Đấng Bản Quyền đã đích thân hay nhờ người khác tuyên kết hay tuyên bố hình phạt bằng sắc lệnh;

20 Đấng Bản Quyền địa phương tại nơi phạm nhân đang cư ngụ, nhưng sau khi tham khảo ý kiến của Đấng Bản Quyền được nói đến ở 10, trừ khi không thể tham khảo được do những hoàn cảnh bất thường.

§2. Hình phạt tiền kết do luật thiết lập nhưng chưa được tuyên bố, và nếu hình phạt ấy đã không được dành riêng cho Tông Toà, thì có thể được Đấng Bản Quyền tha cho những người thuộc quyền mình và những người đang ở trong địa hạt mình hay những người đã phạm tội tại đó; bất cứ Giám Mục nào cũng có quyền tha hình phạt ấy, nhưng chỉ trong khi ban bí tích Giải Tội.

Điều 1356

§1. Những vị sau đây có thể tha một hình phạt hậu kết hay tiền kết được thiết lập bởi một mệnh lệnh không do Tông Tòa ban hành:

10 Đấng Bản Quyền địa phương tại nơi phạm nhân đang cư ngụ;

20 nếu hình phạt đã được tuyên kết hay đã được tuyên bố, thì cả Đấng Bản Quyền đã phát động thủ tục tư pháp để tuyên kết hay tuyên bố hình phạt, hoặc đã đích thân hay nhờ người khác tuyên kết hay tuyên bố hình phạt ấy bằng sắc lệnh.

§2. Truớc khi tha một hình phạt, phải tham khảo ý kiến của người ban mệnh lệnh, trừ khi không thể hỏi ý kiến được do những hoàn cảnh bất thường.

Điều 1357

§1 Miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của các điều 508 và 976, cha giải tội có thể tha ở tòa trong, lúc ban bí tích, vạ tuyệt thông tiền kết hay vạ cấm chế tiền kết chưa được tuyên bố, nếu hối nhân cảm thấy khổ sở khi phải sống trong tình trạng tội trọng suốt thời gian cần thiết để Bề Trên có thẩm quyền định liệu.

§2. Khi tha vạ, cha phải tội phải buộc hối nhân, nếu bất tuân, thì sẽ mắc vạ lại, trong vòng một tháng phải thượng cầu lên Bề Trên có thẩm quyền hay lên tư tế có năng quyền và phải tuân theo quyết định của ngài; trong khi chờ đợi, cha giải tội phải ra một việc đền tội cân xứng và phải buộc đương sự sửa chữa gương xấu cũng như đền bù thiệt hại trong mức độ cần thiết; cũng có thể nhờ cha giải tội thực hiện việc thượng cầu này, nhưng không nêu danh tính của hối nhân.

§3. Những người đã được giải vạ đã được tuyên kết, hay đã được tuyên bố, hay đã được dành riêng cho Tông Toà, chiếu theo quy tắc của điều 976, đều buộc phải giữ nghĩa vụ thượng cầu, sau khi họ đã được bình phục.

Điều 1358

§1. Vạ sẽ không được tha nếu phạm nhân vẫn còn ngoan cố, chiếu theo quy tắc của điều 1347 §2; nhưng không được từ chối tha vạ cho phạm nhân nào đã hết ngoan cố.

§2. Người nào tha vạ, thì có thể áp dụng các biện pháp chiếu theo quy tắc của điều 1348 hay cũng có thể áp đặt một việc sám hối.

Điều 1359

Nếu một người mắc nhiều hình phạt, thì chỉ có những hình phạt được nêu ra cách rõ ràng mới được tha; nhưng việc tha tổng quát vẫn hủy bỏ mọi hình phạt, trừ những hình phạt mà phạm nhân vì gian ý đã không nêu ra trong đơn thỉnh cầu.

Điều 1360

Việc tha hình phạt sẽ vô hiệu nếu bị một sự đe doạ nặng nề thúc ép.

Điều 1361

§1. Có thể tha hình phạt cho cả người vắng mặt, hoặc tha với điều kiện.

§2. Việc tha hình phạt ở tòa ngoài phải được ban bằng văn bản, trừ khi có một lý do nghiêm trọng khuyên làm cách khác.

§3. Phải cẩn thận đừng để việc xin tha hình phạt hay chính việc tha hình phạt bị tiết lộ, trừ khi điều đó hữu ích để bảo vệ thanh danh cho phạm nhân hay cần thiết để sửa chữa một gương xấu.

Điều 1362

§1. Tố quyền hình sự bị thời hiệu tiêu hủy sau ba năm, trừ khi liên quan đến:

10 những tội phạm dành cho Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin;

20 tố quyền liên quan đến các tội phạm được nói đến ở những điều 1394, 1395, 1397, 1398, thời hiệu đối với các tội phạm này là năm năm.

30 những tội phạm không bị luật chung trừng phạt, nếu luật địa phương đã ấn định một thời hạn khác cho thời hiệu.

§2. Thời hiệu bắt đầu từ ngày tội phạm được thực hiện, hoặc, nếu là tội phạm liên tục hay thường xuyên, thì bắt đầu từ ngày tội phạm chấm dứt.

Điều 1363

§1. Nếu sắc lệnh thi hành án của thẩm phán được nói đến ở điều 1651 đã không được thông báo cho phạm nhân trong thời hạn được nói đến ở điều 1362, tính từ ngày án văn kết án trở thành vấn đề quyết tụng, thì tố quyền chấp hành hình phạt bị thời hiệu tiêu hủy.

§2. Nguyên tắc trên đây cũng có giá trị, miễn là vẫn giữ những gì luật định, nếu hình phạt được tuyên kết bằng sắc lệnh ngoài tòa án.

PHẦN II
HÌNH SỰ CHO TỪNG TỘI PHẠM

ĐỀ MỤC 1
TỘI PHẠM CHỐNG LẠI ĐẠO
VÀ TÍNH DUY NHẤT CỦA GIÁO HỘI

Điều 1364

§1. Người bội giáo, lạc giáo hay ly giáo đều bị vạ tuyệt thông tiền kết, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 194 §1, 20, ngoài ra, giáo sĩ có thể phải chịu những hình phạt được nói đến ở điều 1336 §1, 10, 20 và 30.

§2. Có thể thêm những hình phạt khác, kể cả việc sa thải khỏi bậc giáo sĩ, nếu có sự ngoan cố kéo dài hay sự nghiêm trọng của gương xấu đòi hỏi điều đó.

Điều 1365

Phạm nhân nào vi phạm lệnh cấm thông dự vào việc thánh, thì phải chịu một hình phạt thích đáng.

Điều 1366

Những bậc cha mẹ hay những người thay quyền cha mẹ đã cho con cái được rửa tội hay được giáo dục trong một tôn giáo không Công giáo, đều bị phạt vạ hay phải chịu một hình phạt khác thích đáng.

Điều 1367

Những người ném bỏ, lấy hoặc giữ Mình Máu Thánh Chúa với mục đích phạm thánh, phải bị vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tông Toà; ngoài ra giáo sĩ có thể phải chịu một hình phạt khác nữa, kể cả việc sa thải khỏi bậc giáo sĩ.

Điều 1368

Người nào bội thề bằng cách quả quyết hay hứa một điều gì trước mặt nhà chức trách Giáo Hội, đều phải chịu một hình phạt thích đáng.

Điều 1369

Trong một buổi biểu diễn, hoặc trong một hội nghị công cộng, hoặc trong khi dùng những phương tiện truyền thông xã hội khác, người nào nói lộng ngôn hoặc xúc phạm nặng nề đến thuần phong mỹ tục, hoặc mạ lỵ, hoặc kích động lòng thù ghét hay khinh dể chống đối tôn giáo hay Giáo Hội, thì phải chịu một hình phạt thích đáng.

ĐỀ MỤC 2
TỘI PHẠM CHỐNG LẠI
NHÀ CHỨC TRÁCH GIÁO HỘI
VÀ TỰ DO CỦA GIÁO HỘI

Điều 1370

§1. Người nào dùng vũ lực thể lý chống lại Đức Giáo Hoàng Rôma, thì bị vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tông Tòa; nếu người ấy là giáo sĩ, thì tùy theo tính cách nghiêm trọng của tội phạm, có thể phải chịu thêm một hình phạt khác nữa, kể cả việc sa thải khỏi bậc giáo sĩ.

§2. Người nào dùng vũ lực thể lý chống lại một người có chức Giám Mục, thì bị vạ cấm chế tiền kết; nếu người ấy là giáo sĩ, thì còn bị vạ huyền chức tiền kết nữa.

§3. Người nào dùng vũ lực thể lý chống lại một giáo sĩ hay một tu sĩ vì khinh dể đức tin hay Giáo Hội, hay quyền bính, hay thừa tác vụ của Giáo Hội, thì phải chịu một hình phạt thích đáng.

Điều 1371

Những người sau đây phải chịu một hình phạt thích đáng:

10 ngoài trường hợp được nói đến ở điều 1364 §1, người nào dạy một học thuyết đã bị Đức Giáo Hoàng Rôma hay Công Đồng chung lên án, hoặc ngoan cố khước từ giáo huấn được nói đến ở điều 750 §2 hay ở điều 752, sau khi đã bị Tông Tòa hay Đấng Bản Quyền cảnh cáo mà không rút lại;

20 người nào, bằng một cách nào khác, không vâng theo lệnh truyền hoặc lệnh cấm hợp pháp của Tông Tòa, của Đấng Bản Quyền hay của Bề Trên, và vẫn ngoan cố không vâng phục sau khi đã bị cảnh cáo.

Điều 1372

Người nào nại đến Công Đồng chung hay Giám Mục đoàn để chống lại một hành vi của Đức Giáo Hoàng Rôma, thì phải bị phạt vạ.

Điều 1373

Người nào công khai kích động những người thuộc quyền chống đối hay thù ghét Tông Tòa hay Đấng Bản Quyền vì một hành vi nào đó của quyền bính hay của thừa tác vụ Giáo Hội, hoặc người nào xúi giục những người thuộc quyền không vâng phục các ngài, thì phải bị vạ cấm chế hay những hình phạt thích đáng khác.

Điều 1374

Người nào ghi danh vào một hiệp hội âm mưu chống lại Giáo Hội, thì phải chịu một hình phạt thích đáng; còn người nào cổ động hoặc điều hành hiệp hội ấy, thì phải bị phạt vạ cấm chế.

Điều 1375

Nghững người nào ngăn cản việc tự do thi hành một thừa tác vụ hay việc tự do bầu cử hay việc tự do thi hành quyền bính Giáo Hội, hoặc ngăn cản việc sử dụng hợp pháp những của thánh hay những tài sản khác của Giáo Hội, hoặc những người nào hăm dọa một cử tri, hay một người đắc cử, hay một người đang thi hành quyền bính hay một thừa tác vụ Giáo Hội, thì phải chịu một hình phạt thích đáng.

Điều 1376

Người nào xúc phạm đến một đồ vật thánh, dù là động sản hay bất động sản, thì phải chịu một hình phạt thích đáng.

Điều 1377

Người nào chuyển nhượng tài sản của Giáo Hội mà không có phép cần phải có, thì phải chịu một hình phạt thích đáng.

ĐỀ MỤC 3
CHIẾM ĐOẠT GIÁO VỤ VÀ NHỮNG TỘI PHẠM
KHI THI HÀNH GIÁO VỤ ẤY

Điều 1378

§1. Tư tế nào hành động ngược với những quy định của điều 977, thì bị vạ tuyệt thông tiền kết được dành riêng cho Tông Tòa.

§2. Những người sau đây bị vạ cấm chế tiền kết và bị vạ huyền chức, nếu họ là giáo sĩ:

10 người nào không phải là tư tế mà dám cử hành phụng vụ Hiến Tế Thánh Thể;

20 ngoài trường hợp được nêu lên ở §1, người nào dám bí tích Giải Tội, hoặc nghe xưng tội như bí tích, mặc dù không thể ban bí tích giải tội cách thành sự.

§3. Trong những trường hợp được nói đến ở §2, tùy mức độ nghiêm trọng của tội phạm, có thể thêm những hình phạt khác nữa, kể cả vạ tuyệt thông.

Điều 1379

Ngoài những trường hợp được nói đến ở điều 1378, người nào giả bộ ban một bí tích nào đó, thì phải chịu một hình phạt chính đáng.

Điều 1380

Người nào cử hành hay lãnh nhận một bí tích nào đó vì mại thánh, thì phải bị phạt vạ cấm chế hay huyền chức.

Điều 1381

§1. Người nào chiếm đoạt một giáo vụ, thì phải chịu một hình phạt thích đáng.

§2. Việc giữ lại một chức vụ cách bất hợp pháp sau khi đã bị bãi nhiệm hay mãn nhiệm cũng được kể như tương đương với việc chiếm đoạt.

Điều 1382

Giám Mục nào phong chức Giám Mục cho một người mà không có thư ủy nhiệm của Đức Giáo Hoàng, cũng như người nào được vị ấy truyền chức cho, đều bị vạ tuyệt thông tiền kết được dành riêng cho Tông Tòa.

Điều 1383

Giám Mục nào vi phạm quy định của điều 1015, phong chức cho một người thuộc quyền một Giám Mục khác mà không có thư giới thiệu hợp pháp, thì bị cấm truyền chức trong vòng một năm. Còn người được thụ phong thì tức khắc bị vạ huyền chức.

Điều 1384

Ngoài các trường hợp được nói đến ở những điều 1378-1383, người nào tìm cách chiếm đoạt một nhiệm vụ của tư tế hay một thừa tác vụ thánh cách bất hợp pháp, thì có thể phải chịu một hình phạt thích đáng.

Điều 1385

Người nào trục lợi cách bất hợp pháp trên các bổng lễ, thì phải bị phạt vạ hoặc phải chịu một hình phạt thích đáng.

Điều 1386

Người nào biếu hoặc hứa bất cứ điều gì cho người đang thi hành một chức vụ trong Giáo Hội, để họ làm hay bỏ qua một điều gì đó cách bất hợp pháp, thì phải chịu một hình phạt thích đáng; cả người nhận quà biếu hay lời hứa ấy cũng bị phạt như vậy.

Điều 1387

Tư tế nào dụ dỗ hối nhân phạm tội nghịch điều răn thứ sáu của Thập Giới trong khi giải tội, hay nhân dịp giải tội, hay viện cớ giải tội, thì phải bị phạt vạ huyền chức, cấm chế, bãi nhiệm tùy theo mức độ nghiêm trọng của tội phạm, và phải bị sa thải khỏi bậc giáo sĩ trong những trường hợp nghiêm trọng hơn.

Điều 1388

§1. Cha giải tội nào trực tiếp vi phạm ấn tòa giải tội, thì bị vạ tuyệt thông tiền kết được dành riêng cho Tông Tòa; còn vị nào chỉ vi phạm cách gián tiếp, thì phải bị phạt tùy theo mức độ nghiêm trọng của tội phạm.

§2. Thông dịch viên và những người khác được nói đến ở điều 983 §2, vi phạm bí một, thì phải chịu một hình phạt thích đáng, kể cả vạ tuyệt thông.

Điều 1389

§1. người nào lạm dụng quyền bính hay chức vụ Giáo Hội, thì phải bị phạt tùy theo mức độ nghiêm trọng của hành vi hay của việc thiếu sót, kể cả hình phạt bãi nhệm, trừ khi luật hay mệnh lệnh đã thiết lập một hình phạt đối với sự lạm dụng ấy.

§2. Còn người nào, do lỗi sơ suất, thực hiện hay bỏ qua cách bất hợp pháp một hành vi thuộc quyền bính, thừa tác vụ, hay chức vụ của Giáo Hội, khiến cho người khác bị thiệt hại, thì phải chịu một hình phạt thích đáng.

ĐỀ MỤC 4
TỘI PHẠM NGỤY TẠO

Điều 1390

§1. Người nào cáo gian một cha giải tội với Bề Trên trong Giáo Hội về tội phạm được nói đến ở điều 1387, thì bị vạ cấm chế tiền kết, và nếu người ấy là giáo sĩ, thì còn bị vạ huyền chức nữa.

§2. Người nào cáo gian với Bề Trên trong Giáo Hội về một tội phạm nào khác, hoặc làm hại thanh danh của tha nhân bằng cách nào khác, thì có thể phải chịu một hình phạt thích đáng, kể cả bị vạ.

§3. Người vu khống cũng có thể bị cưỡng bức phải bồi thường tương xứng.

Điều 1391

Những người sau đây có thể phải chịu một hình phạt thích đáng tùy theo mức độ nghiêm trọng của tội phạm:

10 người giả mạo một công văn của Giáo Hội, hay sửa đổi, thủ tiêu, cất giấu một tài liệu chính thức, hoặc sử dụng một tài liệu giả mạo hay đã bị sửa đổi;

20 người sử dụng một tài liệu khác, giả mạo hoặc đã bị sửa đổi, trong một sự việc thuộc Giáo Hội;

30 người khẳng định một điều ngụy tạo trong một công văn thuộc Giáo Hội.

ĐỀ MỤC 5
TỘI PHẠM
NGHỊCH VỚI CÁC NGHĨA VỤ ĐẶC BIỆT

Điều 1392

Giáo sĩ hay tu sĩ hành nghề thương mại hay kinh doanh nghịch với những quy định của các điều luật, thì phải bị phạt, tùy theo mức độ nghiêm trọng của tội phạm.

Điều 1393

Người nào vi phạm các nghĩa vụ được áp đặt cho mình như là hình phạt, thì có thể phải chịu một hình phạt thích đáng.

Điều 1394

§1. Miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 194 §1, 30, một giáo sĩ mưu toan kết hôn, dù chỉ là hôn nhân dân sự, thì bị vạ huyền chức tiền kết; nếu đương sự không hối cải và vẫn tiếp tục gây gương xấu, sau khi đã bị cảnh cáo, thì có thể phải chịu những hình phạt tước đoạt càng ngày càng nặng, và kể cả việc sa thải khỏi bậc giáo sĩ.

§2. Tu sĩ đã có lời khấn vĩnh viễn mà không phải là giáo sĩ, nếu mưu toan kết hôn, dù chỉ là hôn nhân dân sự, thì bị vạ cấm chế tiền kết, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 694.

Điều 1395

§1. Giáo sĩ nào tư hôn, ngoài trường hợp được nói đến ở điều 1394, và giáo sĩ nào thường xuyên ở trong một tội bề ngoài khác nghịch giới răn thứ sáu của Thập Giới với gương xấu, thì phải bị phạt vạ huyền chức; và nếu còn tiếp tục phạm tội, sau khi đã bị cảnh cáo, thì có thể phải tuần tự chịu thêm những hình phạt khác, kể cả việc sa thải khỏi bậc giáo sĩ.

§2. Giáo sĩ nào thực hiện một tội phạm nghịch giới răn thứ sáu của Thập Giới bằng một cách khác, nếu thực sự tội phạm đã được thực hiện bằng vũ lực, hay với sự hăm dọa, hay cách công khai, hay với một vị thành niên dưới mười sáu tuổi, thì phải chịu một hình phạt thích đáng, kể cả việc sa thải khỏi bậc giáo sĩ, nếu trường hợp đòi hỏi điều đó.

Điều 1396

Người nào vi phạm nặng nghĩa vụ cư trú mà giáo vụ buộc phải giữ, thì phải chịu một hình phạt thích đáng, kể cả việc bãi nhiệm sau khi đã bị cảnh cáo.

ĐỀ MỤC 6
TỘI PHẠM ĐẾN SỰ SỐNG
VÀ TỰ DO CỦA CON NGƯỜI

Điều 1397

Người nào phạm tội sát nhân, hoặc dùng vũ lực hay mưu kế để bắt cóc, hoặc giam giữ, hoặc hủy hoại thân thể, hoặc đả thương trầm trọng một người nào đó, thì phải chịu những hình phạt tước đoạt và cấm chế được nói đến ở điều 1336, tùy theo mức độ nghiêm trọng của tội phạm; còn tội sát nhân phạm đến những người được nói đến ở điều 1370, thì đương sự phải chịu những hình phạt do chính điều luật ấy quy định.

Điều 1398

Người nào thi hành việc phá thai và nếu việc phá thai có hiệu quả, thì bị vạ tuyệt thông tiền kết.

ĐỀ MỤC 7
QUY TẮC TỔNG QUÁT

Điều 1399

Ngoài những trường hợp do luật này hay những luật khác ấn định, sự vi phạm bề ngoài một luật Thiên Chúa hay một luật Giáo Hội chỉ có thể bị một hình phạt thích đáng, khi tính cách nghiêm trọng đặc biệt của sự vi phạm đòi hỏi một sự trừ phạt, và khi có nhu cầu thúc bách phải phòng ngừa hay sửa chữa những gương xấu.

Trở về Mục Lục