You are here

Quyển VII: Tố Tụng

Quyển VII
TỐ TỤNG

 

PHẦN I
XỬ ÁN NÓI CHUNG

Điều 1400

§1. Đối tượng của việc xử án là:

10 truy tố hoặc bào chữa những quyền lợi của thể nhân hay pháp nhân, hoặc tuyên bố những sự kiện pháp lý;

20 tuyên kết hay tuyên bố một hình phạt thuộc về những tội phạm.

§2. Tuy nhiên, những tranh tụng phát sinh từ một hành vi thuộc quyền hành chính chỉ có thể trình lên Bề Trên hay tòa án hành chính.

Điều 1401

Do quyền riêng biệt và độc hữu, Giáo Hội xét xử:

10 những vụ án liên quan đến những việc thiêng liêng và đến những gì gắn liền với những việc thiêng liêng đó;

20 việc vi phạm luật Giáo hội và tất cả những hành vi có tính cách tội lỗi, trong tương quan với việc xác định lỗi phạm cũng như việc tuyên kết hình phạt của Giáo Hội.

Điều 1402

Tất cả các tòa án của Giáo Hội được điều hành theo những điều luật sau đây, không kể những quy tắc của các tòa án Tông Tòa.

Điều 1403

§1. Những vụ án phong thánh cho các tôi tớ của Thiên Chúa được điều hành theo luật riêng của Đức Giáo Hoàng.

§2. Ngoài ra, những quy định của Bộ Luật này cũng được áp dụng cho những vụ án ấy, mỗi khi luật riêng của Đức Giáo Hoàng quy chiếu về luật phổ quát, hoặc đề cập đến những quy tắc mà do chính bản chất sự việc cũng liên quan đến các vụ án ấy.

ĐỀ MỤC 1
TÒA ÁN CÓ THẨM QUYỀN

Điều 1404

Không ai có quyền xét xử Đức Giáo Hoàng.

Điều 1405

§1. Trong những vụ án nói ở điều 1041, chỉ một mình Đức Giáo Hoàng có quyền xét xử những người sau đây:

10 các vị nguyên thủ quốc gia;

20 các vị Hồng Y;

30 các Sứ Giả tông tòa và các Giám Mục trong những vụ án hình sự;

40 các vụ án khác mà chính ngài đã dành riêng cho mình quyền xét xử.

§2. Vị thẩm phán không thể duyệt xét một văn kiện hay một tài liệu đã được Đức Giáo Hoàng Rôma phê chuẩn cách đặc biệt, nếu trước đó không có sự ủy nhiệm của ngài.

§3. Được dành riêng cho Tòa Thượng Thẩm Rôma quyền xét xử;

10 các Giám Mục trong những vụ án hộ sự, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1419 §2;

20 Viện Phụ tổng quyền hay Viện Phụ Bề Trên hiệp hội đan viện và vị Điều Hành tổng quyền các hội dòng thuộc luật giáo hoàng;

30 các giáo phận và những pháp nhân hoặc những thể nhân khác trong Giáo Hội không có Bề Trên nào khác dưới Đức Giáo Hoàng Rôma.

Điều 1406

§1. Nếu quy định của điều 1404 bị vi phạm, thì các án tử và các quyết định đều vô hiệu.

§2. Trong những vụ án nói ở điều 1405, các thẩm phán khác tuyệt đối không có thẩm quyền.

Điều 1407

§1. Không ai có thể bị kiện ở tòa án cấp một, nếu không phải là trước vị thẩm phán có thẩm quyền của Giáo Hội với một trong những danh nghĩa được ấn định ở những điều 1408-1414.

§2. Sự vô thẩm quyền của thẩm phán gọi là tương đối, khi thẩm phán không có danh nghĩa nào trong số các danh nghĩa đó.

§3. Nguyên cáo theo tòa án của bị cáo, nếu bị cáo có nhiều tòa án, thì nguyên cáo được quyền lựa chọn tòa án.

Điều 1408

Bất cứ ai cũng có thể bị kiện ở tòa án tại nơi họ có cư sở hay bán cư sở.

Điều 1409

§1. Tòa án dành cho người không có cư sở là tòa án tại nơi người ấy hiện đang cư trú.

§2. Bất cứ ai mà cư sở hoặc bán cư sở hoặc nơi cư trú không được biết đến đều có thể bị kiện ở tòa án của nguyên cáo, miễn là không có một tòa án hợp pháp nào khác được chỉ định.

Điều 1410

Vì lý do tọa lạc của sự việc, đương sự có thể bị kiện ở tòa án tại nơi xảy ra sự việc đang tranh chấp, mỗi khi tố quyền nhằm trực tiếp sự việc đó, hoặc khi đó là một vụ tước đoạt.

Điều 1411

§1. Vì lý do khế ước, đương sự có thể bị kiện ở tòa án tại nơi khế ước đã được ký kết hay phải được thực hiện, trừ khi hai bên đã đồng ý chọn một tòa án khác.

§2. Nếu vụ án lên quan đến những nghĩa vụ phát xuất từ một danh nghĩa khác, đương sự có thể bị kiện ở tòa án tại nơi nghĩa vụ phát sinh hay phải được thực hiện.

Điều 1412

Trong những vụ án hình sự, bị cáo, mặc dù vắng mặt, có thể bị kiện ở tòa án tại nơi xảy ra tội phạm.

Điều 1413

Đương sự có thể bị kiện:

10 trong những vụ án liên quan đến việc quản trị, tại tòa án của nơi việc quản trị được điều hành;

20 trong những vụ án liên quan đến sự kế thừa hay các di tặng đạo đức, tại tòa án ở nơi người để lại gia tài hay di tặng đạo đức có cư sở, hoặc bán cư sở hoặc nơi cư trú sau cùng, chiếu theo các điều 1408-1409, tuy nhiên, nếu chỉ liên quan đến việc thực hiện di tặng, thì phải được xử lý theo các quy tắc thông thường về thẩm quyền.

Điều 1414

Vì lý do liên hệ, các vụ án liên hệ với nhau phải được xét xử do cùng một tòa án và trong cùng một vụ xử, trừ khi quy định của luật không cho phép.

Điều 1415

Vì lý do ưu tiên, nếu hai hay nhiều tòa án cùng có thẩm quyền như nhau thì tòa án nào đã triệu tập đuơng sự ra tòa trước tiên cách hợp pháp thì tòa ấy có quyền xét xử vụ án.

Điều 1416

Những vụ tranh chấp thẩm quyền giữa các tòa án cùng lệ thuộc một tòa kháng cáo, sẽ do tòa án này giải quyết; nếu không lệ thuộc cùng một tòa kháng cáo, thì do Tối Cao Pháp Viện tông tòa giải quyết.

ĐỀ MỤC 2
CÁC CẤP
VÀ CÁC LOẠI TÒA ÁN KHÁC NHAU

Điều 1417

§1. Vì lý do quyền tối thượng của Đức Giáo Hoàng Rôma, bất cứ tín hữu nào cũng có trọn quyền đệ trình hay khởi tố lên Tòa Thánh để Tòa Thánh xét xử một vụ án có tính cách hộ sự hay hình sự của mình, trong bất cứ cấp xét xử nào và trong bất cứ giai đoạn tố tụng nào.

§2. Tuy nhiên, ngoại trừ trường hợp kháng cáo, việc kiến nghị lên Tông Tòa không đình hoãn việc thi hành quyền tài phán của thẩm phán đã bắt đầu xét xử vụ án; vì thế, thẩm phán ấy có thể tiếp tục xét xử cho đến khi tuyên án chung quyết, trừ khi Tông Tòa cho thẩm phán biết Tông tòa đã dành vụ án cho mình.

Điều 1418

Bất cứ tòa án nào cũng có quyền yêu cầu một tòa án khác giúp thẩm vấn một vụ án hoặc thông báo các án từ.

CHƯƠNG 1
TÒA ÁN CẤP MỘT

TIẾT 1
THẨM PHÁN

Điều 1419

§1. Trong mỗi giáo phận và cho mọi vụ kiện không bị luật minh nhiên loại trừ, thẩm phán của tòa án cấp một là Giám Mục giáo phận, ngài có thể đích thân hay nhờ người khác thi hành quyền xét xử, theo các điều khoản sau đây.

§2. Nhưng nếu vụ án có liên quan đến những quyền lợi hay những tài sản vật chất của một pháp nhân do Giám Mục đại diện, thì tòa kháng cáo xét xử như tòa án cấp một.

Điều 1420

§1. Bất cứ Giám Mục giáo phận nào cũng buộc phải đặt một vị Đại Diện tư pháp hay Ủy Viên tài phán có thường quyền xét xử, vị này phải khác với Tổng Đại Diện, ngoại trừ trường hợp giáo phận nhỏ hẹp hay số vụ án quá ít khuyên nên làm cách khác.

§2. Vị Đại Diện tư pháp thiết lập một tòa án duy nhất cùng với Giám Mục nhưng không được xét xử những vụ án mà Giám Mục dành riêng cho mình.

§3. Có thể cấp cho vị Đại Diện tư pháp nhiều phụ tá gọi là phó Đại Diện tư pháp hay là phó Uỷ Viên tài phán.

§4. Đại Diện tư pháp cũng như phó Đại Diện tư pháp phải là tư tế có thanh danh, có bằng tiến sĩ hay ít nhất cử nhân giáo luật, và không dưới ba mươi tưổi.

§5. Khi tòa giám mục khuyết vị, những vị ấy vẫn tiếp tục chức vụ, và không thể bị Giám Quản giáo phận giải nhiệm; nhưng khi có Giám Mục mới, các vị ấy cần được xác nhận lại.

Điều 1421

§1. Trong giáo phận, Giám Mục phải đặt các thẩm phán giáo phận, các vị này phải là giáo sĩ.

§2. Hội Đồng Giám Mục có thể cho phép đặt cả giáo dân làm thẩm phán, và nếu cần thì một trong những người ấy có thể được chọn để thành lập thẩm phán đoàn.

§3. Các thẩm phán phải có thanh danh và có bằng tiến sĩ hay ít nhất là cử nhân giáo luật.

Điều 1422

Đại Diện tư pháp, các phó Đại Diện tư pháp và các thẩm phán khác được bổ nhiệm cho một thời gian nhất định, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1420 §5, và các vị ấy không thể bị giải nhiệm, trừ khi có lý do hợp pháp và nghiêm trọng.

Điều 1423

§1. Thay vì thiết lập các tòa án giáo phận theo các điều 1419-1421, nhiều Giám Mục giáo phận với sự chuẩn y của Tông Toà, có thể đồng ý với nhau để thiết lập một tòa án cấp một duy nhất cho các giáo phận của mình; trong trường hợp này, tập thể các Giám Mục ấy hay một Giám Mục được các ngài chỉ định có mọi quyền mà mỗi Giám Mục giáo phận có đối với toà án của mình.

§2. Các tòa án nói ở §1 có thể được thiết lập hoặc cho bất cứ vụ án nào, hoặc chỉ cho một vài loại vụ án nào đó mà thôi.

Điều 1424

Trong bất cứ vụ xét xử nào, vị thẩm phán duy nhất có thể mời hai hội thẩm là giáo sĩ hay giáo dân có đời sống liêm khiết làm cố vấn cho mình.

Điều 1425

§1. Phải loại bỏ tục lệ trái ngược và dành cho tòa án gồm ba thẩm phán:

10 những vụ án hộ sự về:

a) dây ràng buộc do chức thánh;

b) dây ràng buộc do hôn nhân, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của các điều 1686 và 1688;

20 những vụ hình sự:

a) về những tội phạm có thể đưa đến hình phạt sa thải khỏi bậc giáo sĩ;

b) về việc tuyên kết hay tuyên bố vạ tuyệt thông;

§2. Giám Mục có thể ủy thác những vụ án khó hơn hay quan trọng hơn cho tòa án gồm ba hay năm thẩm phán.

§3. Đại Diện tư pháp phải mời các thẩm phán theo thứ tự luân phiên để xét xử từng vụ án một, trừ khi Giám Mục ấn định cách khác cho mỗi trường hợp.

§4. Trong việc xét xử ở cấp một, nếu không thể thiết lập thẩm phán đoàn, bao lâu tình trạng bất khả thi ấy còn kéo dài, thì Hội Đồng Giám Mục có thể cho phép ủy thác các vụ án cho một thẩm phán giáo sĩ duy nhất, và nơi nào có thể được, vị này phải mời một hội thẩm và một dự thẩm giúp mình.

§5. Một khi các thẩm phán đã được chỉ định rồi, Đại Diện tư pháp đừng thay thế họ, nếu không vì một lý do rất nghiêm trọng cần phải ghi trong sắc lệnh.

Điều 1426

§1. Tòa án hiệp đoàn phải tiến hành cách tập thể và phải tuyên án theo đa số phiếu.

§2. Trong mức độ có thể, Đại Diện tư pháp hay phó Đại Diện tư pháp phải chủ tọa tòa án nói trên.

Điều 1427

§1. Nếu có tranh chấp giữa các tu sĩ hay giữa các nhà của cùng một hội dòng giáo sĩ thuộc luật giáo hoàng, trừ khi hiến pháp đã dự liệu cách khác, thì thẩm phán của tòa án cấp một là Bề Trên tỉnh dòng hoặc là Viện Phụ sở tại, nếu là đan viện tự trị.

§2. Nếu là tranh chấp hộ sự giữa hai tỉnh dòng thì chính vị Điều Hành tổng quyền tự mình hay là nhờ người thụ ủy xét xử ở cấp một; nếu là tranh chấp hộ sự giữa hai đan viện, Viện Phụ Bề Trên của hiệp hội đan viện sẽ xét xử, trừ khi hiến pháp quy định cách khác.

§3. Cuối cùng, nếu là tranh chấp giữa các thể nhân hoặc pháp nhân dòng thuộc các hội dòng khác nhau, hoặc thuộc cùng một hội dòng giáo sĩ thuộc luật giáo phận hay thuộc một tu hội giáo dân hoặc giữa một tu sĩ và một giáo sĩ triều hay một giáo dân hay một pháp nhân không thuộc hội dòng, thì tòa án giáo phận sẽ xét xử ở cấp một.

TIẾT 2
DỰ THẨM VÀ PHÚC TRÌNH VIÊN

Điều 1428

§1. Để thẩm cứu vụ án, vị thẩm phán hay vị chánh án hiệp đoàn có thể chỉ định một dự thẩm được lựa chọn hoặc trong số các thẩm phán của tòa án hoặc trong số những người đã được Giám Mục chuẩn nhận để giữ nhiệm vụ ấy.

§2. Giám Mục có thể chuẩn nhận những giáo sĩ hay giáo dân nổi bật về hạnh kiểm tốt, về khôn ngoan và đạo lý để giữ nhiệm vụ dự thẩm.

§3. Theo sự ủy nhiệm của thẩm phán, nhiệm vụ của dự thẩm là chỉ thu thập các bằng chứng và trao cho vị thẩm phán những bằng chứng đã thu thập được; nhưng nếu ủy nhiệm của thẩm phán không định ngược lại, dự thẩm có thể quyết định trong khi thẩm cứu phải thu nhập những bằng chứng nào và bằng cách nào, nếu tình cờ có vấn đề như thế xảy ra, trong khi thi hành nhiệm vụ của mình.

Điều 1429

Vị chánh án tòa án hiệp đoàn phải chỉ định một trong những thẩm phán của hiệp đoàn làm báo cáo viên hay phúc trình viên; vị này sẽ tường trình vụ án trong phiên họp của các thẩm phán, và dự thảo án văn trên giấy tờ; khi có lý do chính đáng, vị chánh án tòa án có thể thay thế người ấy bằng một người khác.

TIẾT 3
CÔNG TỐ VIÊN
BẢO HỆ VIÊN VÀ CÔNG CHỨNG VIÊN

Điều 1430

Đối với những vụ án hộ sự trong đó công ích có thể bị lâm nguy cũng như đối với những vụ án hình sự, phải đặt một công tố viên trong giáo phận, công tố viên có bổn phận lo cho công ích.

Điều 1431

§1. Trong các vụ án hộ sự, Giám Mục giáo phận nhận định xem công ích có thể bị lâm nguy hay không, trừ khi luật buộc công tố viên phải can thiệp hay khi sự can thiệp này là hiển nhiên cần thiết cho bản chất của sự việc.

§2. Nếu công tố viên đã can thiệp ở một cấp dưới thì sự can thiệp ấy được suy đoán là cần thiết ở cấp trên.

Điều 1432

Đối với các vụ án liên quan đến sự vô hiệu của việc truyền chức thánh hoặc liên quan đến sự vô hiệu hay sự phân ly của hôn nhân, phải đặt một bảo hệ viên trong giáo phận, vị này có bổn phận phải đề nghị và trình bày tất cả những gì có thể được dẫn chứng cách hợp lý để chống lại sự vô hiệu hay sự phân ly.

Điều 1433

Trong những vụ án đòi buộc công tố viên hay bảo hệ viên phải hiện diện, nếu những người này không được triệu tập đến, các án từ đều vô giá trị, trừ khi chính họ, mặc dù không được triệu tập đến, nhưng sự thực đã có mặt, hoặc ít nhất họ đã có thể thi hành nhiệm vụ của mình trước khi tuyên án bằng việc khảo sát các án từ.

Điều 1434

Trừ khi luật đã minh nhiên dự liệu cách khác:

10 mỗi khi luật quy định thẩm phán phải nghe hai bên hoặc một trong hai, thì cũng phải nghe công tố viên và bảo hệ viên, nếu các vị này tham gia vào việc xử án;

20 mỗi khi đòi phải có lời yêu cầu của một bên để thẩm phán có thể quyết định một vấn đề gì, thì sự yêu cầu của công tố viên hay bảo hệ viên tham gia vào việc xử án cũng có hiệu lực như vậy.

Điều 1435

Giám Mục bổ nhiệm công tố viên và bảo hệ viên, dù là giáo sĩ hay giáo dân, các vị này phải có thanh danh, có bằng tiến sĩ hay cử nhân giáo luật, khôn ngoan và nhiệt thành với công lý.

Điều 1436

§1. Một người có thể vừa giữ chức vụ công tố viên vừa giữ chức vụ bảo hệ viên, miễn là không phải trong cùng một vụ án.

§2. Công tố viên và bảo hệ viên có thể được đặt lên để làm việc trong mọi vụ án hay là trong từng vụ án, nhưng các vị này có thể bị Giám Mục bãi nhiệm vì lý do chính đáng.

Điều 1437

§1. Công chứng viên phải tham gia bất cứ vụ tố tụng nào, vì thế, các án từ sẽ vô hiệu, nếu không có chữ ký của công chứng viên.

§2. Các án từ do công chứng viên soạn thảo có giá trị công tín.

CHƯƠNG 2
TÒA ÁN CẤP HAI

Điều 1438

Miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1444 §1, 10:

10 việc kháng cáo được thực hiện từ tòa án của Giám Mục thuộc giáo tỉnh lên tòa án của Tổng Giám Mục giáo tỉnh, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1439;

20 trong những vụ án đã được xét xử ở tòa án cấp một trước mặt Tổng Giám Mục giáo tỉnh, phải kháng cáo lên tòa án ngài đã định cách cố định, với sự chuẩn y của Tông Tòa;

30 đối với những vụ án đã được xét xử trước mặt Bề Trên tỉnh dòng, thì tòa án cấp hai là tòa án của vị Điều Hành tổng quyền; đối với những vụ án đã được xét xử trước mặt Viện Phụ sở tại, thì tòa án cấp hai là tòa án của Viện Phụ Bề Trên hiệp hội đan viện.

Điều 1439

§1. Nếu chỉ có một tòa án cấp một duy nhất được thiết lập chung cho nhiều giáo phận chiếu theo quy tắc của điều 1423, thì Hội Đồng Giám Mục phải thiết lập tòa án cấp hai với sự chuẩn y của Tông Tòa, trừ khi tất cả các giáo phận đó đều thuộc về cùng một tổng giáo phận.

§2. Với sự chuẩn y của Tông Tòa, Hội Đồng Giám Mục có thể thiết lập một hay nhiều tòa án cấp hai, kể cả ngoài những trường hợp nói ở §1.

§3. Đối với những tòa án cấp hai nói ở §§1 và 2, Hội Đồng Giám Mục hay Giám Mục đã được Hội Đồng Giám Mục chỉ định, có tất cả quyền hành mà Giám Mục giáo phận có đối với tòa án của mình.

Điều 1440

Nếu thẩm quyền về cấp tòa án xét xử không được tuân giữ chiếu theo quy tắc của các điều 1438 và 1439, thì thẩm phán tuyệt đối vô thẩm quyền.

Điều 1441

Tòa án cấp hai phải được thiết lập cùng một thể thức như tòa án cấp một. Nhưng nếu việc xét xử ở cấp một chỉ có một thẩm phán tuyên án, chiếu theo điều 1425 §4, thì tòa án cấp hai phải tiến hành xét xử theo thể thức hiệp đoàn.

CHƯƠNG 3
CÁC TÒA ÁN TÔNG TÒA

Điều 1442

Đức Giáo Hoàng Rôma là vị thẩm phán tối cao cho toàn thế giới Công giáo, ngài đích thân xét xử hoặc qua các tòa án thông thường của Tông Tòa, hoặc qua các vị thẩm phán do ngài ủy quyền.

Điều 1443

Tòa án thông thường được Đức Giáo Hoàng Rôma thiết lập để nhận những kháng cáo là tòa Thượng Thẩm Rôma.

Điều 1444

§1. Tòa Thượng Thẩm Rôma xét xử:

10 ở cấp hai, những vụ án đã được tòa án thông thường cấp một xét xử và kháng cáo hợp pháp lên Tòa Thánh.

20 ở cấp ba hay cấp cao hơn, những vụ án đã được xét xử do chính tòa Thượng Thẩm Rôma và do bất cứ tòa án nào khác, trừ khi vấn đề đã trở thành quyết tụng.

§2. Tòa án này xét xử cả ở cấp một những vụ án nói ở điều 1405 §3, hay những vụ án khác mà Đức Giáo Hoàng Rôma, hoặc do tự ý hoặc do yêu cầu của các bên, đã gọi lên xét xử tại tòa án của mình và trao cho tòa Thượng Thẩm Rôma; chính tòa Thượng Thẩm Rôma xét xử những vụ án ấy cả ở cấp hai và ở cấp cao hơn nữa, trừ khi đã dự liệu cách khác trong phúc chiếu trao nhiệm vụ.

Điều 1445

§1. Tối Cao Pháp Viện tông tòa xét xử:

10 những vụ tranh chấp về sự vô hiệu, những thỉnh nguyện về sự phục hồi nguyên trạng và những vụ việc kháng nghị khác chống lại các phán quyết của tòa Thượng Thẩm Rôma;

20 những trường hợp kháng nghị trong những vụ án về tình trạng nhân thân mà tòa Thượng Thẩm Rôma từ chối không xét xử lại;

30 những khước biện vì nghi ngờ và những vụ án khác chống lại các dự thẩm của tòa Thượng Thẩm Rôma vì những hành động của họ trong khi thi hành chức vụ;

40 những vụ tranh chấp về thẩm quyền nói ở điều 1416.

§2. Tòa án xét xử những tranh chấp phát xuất từ một hành vi của quyền hành chính trong Giáo Hội đã được đệ lên tòa cách hợp pháp, xét xử những tranh chấp khác có tính cách hành chính được Đức Giáo Hoàng Rôma hay những cơ quan của Giáo Triều Rôma trao cho tòa này thụ lý, và xét xử những tranh chấp về thẩm quyền giữa các cơ quan ấy.

§3. Ngoài ra, Tối Cao Pháp Viện này còn:

10 chăm lo giữ gìn thực thi công lý cách đúng đắn, và nếu cần, tìm cách xử trí với các luật sư hay những người đại diện;

20 gia hạn thẩm quyền của các tòa án;

30 cổ vũ và chuẩn y việc thành lập những tòa án nói ở các điều 1423 và 1439.

ĐỀ MỤC 3
QUY LUẬT PHẢI GIỮ TẠI CÁC TÒA ÁN

CHƯƠNG 1
NHIỆM VỤ CỦA THẨM PHÁN
VÀ CỦA VIÊN CHỨC TÒA ÁN

Điều 1446

§1. Tất cả các Kitô hữu, và nhất là các Giám Mục, phải cố gắng hết mình để tránh những vụ kiện tụng trong dân Chúa, ngần nào có thể, mà vẫn tôn trọng công lý, và phải dàn xếp cách ôn hòa càng sớm càng hay.

§2. Từ lúc khởi đầu vụ tranh tụng, và ngay cả vào bất cứ lúc nào khác, mỗi khi thấy có hy vọng đem lại kết quả tốt, thẩm phán đừng bỏ qua việc khuyên nhủ và giúp đỡ các bên để họ đồng lòng tìm một giải pháp hợp tình hợp lý cho việc tranh chấp và phải chỉ cho họ những đường lối thích hợp để đạt tới mục đích ấy, kể cả việc nhờ những người có uy tín làm trung gian.

§3. Nếu vụ kiện liên quan đến tư ích của các bên, thẩm phán phải xét xem cuộc tranh chấp có thể được kết thúc ổn thỏa hay không bằng cách điều đình, hoặc nhờ trọng tài phán đoán, chiếu theo quy tắc của các điều 1713-1716.

Điều 1447

Người nào đã tham gia vào một vụ án với tư cách thẩm phán, công tố viên, bảo hệ viên, đại diện, luật sư, nhân chứng hoặc chuyên viên, thì sau đó không thể xét xử thành sự vụ án ấy ở cấp khác với tư cách là thẩm phán hoặc thi hành nhiệm vụ hội thẩm trong chính vụ án ấy.

Điều 1448

§1. Thẩm phán không được nhận xét xử một vụ án mà trong đó chính mình có một vài lợi ích cá nhân, vì có họ máu hay họ kết bạn trong bất cứ bậc nào theo hàng dọc và cho đến bậc thứ bốn theo hàng ngang, hay vì có sự bảo trợ và có chức quản tài, vì có tương giao thân mật, vì có một sự hận thù dai dẳng, vì được hưởng một lợi lộc hoặc tránh được một sự thiệt hại.

§2. Trong những trường hợp ấy, công tố viên, bảo hệ viên, hội thẩm và dự thẩm cũng phải tránh thi hành chức vụ.

Điều 1449

§1. Trong những trường hợp nói đến ở điều 1448, nếu chính thẩm phán không cáo thoái, một bên có thể khước từ thẩm phán.

§2. Vị Đại Diện tư pháp xét xử việc khước từ; nếu chính vị này bị khước từ, thì Giám Mục chủ trì tòa án sẽ xét xử.

§3. Nếu Giám Mục là thẩm phán và bị khước từ, ngài phải tránh việc xét xử.

§4. Nếu việc khước từ nhằm chống lại công tố viên, bảo hệ viên hoặc các viên chức khác của tòa án, vị chánh án tòa án hiệp đoàn hay chính thẩm phán, nếu là thẩm phán duy nhất, sẽ xét xử việc khước biện này.

Điều 1450

Một khi đã chấp nhận việc khước từ, thì phải thay đổi các nhân sự, nhưng không được thay đổi các bậc xét xử.

Điều 1451

§1. Vấn đề khước từ phải được giải quyết hết sức nhanh chóng, sau khi nghe các bên, công tố viên hay bảo hệ viên, nếu họ tham gia vào vụ án và chính họ không bị khước từ.

§2. Những hành vi do thẩm phán thực hiện trước khi bị khước từ vẫn thành sự, những hành vi được thực hiện sau khi việc khước từ được đưa ra phải được hủy bỏ, nếu một bên yêu cầu trong thời hạn mười ngày, kể từ lúc việc khước từ được chấp nhận.

Điều 1452

§1. Trong một vụ án chỉ liên quan đến lợi ích riêng, thẩm phán chỉ có thể can thiệp theo sự thỉnh cầu của một bên. Nhưng khi vụ án đã được khởi tố cách hợp pháp, thẩm phán có thể và thậm chí, do chức vụ, phải can thiệp vào những vụ án hình sự hay những vụ án khác liên quan đến công ích của Giáo Hội hoặc phần rỗi các linh hồn.

§2. Ngoài ra, thẩm phán còn có thể bổ khuyết sự sơ xuất của các bên trong việc cung cấp các chứng cớ hoặc đưa ra những khước biện, mỗi khi nhận thấy điều đó là cần thiết để tránh một phán quyết bất công nghiêm trọng, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1600.

Điều 1453

Các thẩm phán và các tòa án phải lo liệu cho tất cả các vụ án được kết thúc càng sớm càng tốt, mà vẫn tôn trọng công lý; các vụ án sẽ không được kéo dài quá một năm ở tòa án cấp một, và không quá sáu tháng ở tòa án cấp hai.

Điều 1454

Tất cả mọi thành viên của tòa án hoặc những người cộng tác vào đó phải thề chu toàn nhiệm vụ một cách chu đáo và trung thành.

Điều 1455

§1. Trong một vụ án hình sự, các thẩm phán và các viên chức tòa án luôn buộc phải giữ bí mật thuộc chức vụ, còn trong một vụ án hộ sự, các vị đó cũng buộc như vậy, nếu sự tiết lộ án từ tố tụng nào đó có thể gây thiệt hại cho các bên.

§2. Các vị ấy cũng phải luôn luôn giữ bí mật về cuộc tranh luật giữa những thẩm phán trong tòa án hiệp đoàn trước khi phán quyết, cũng như về những lần bỏ phiếu khác nhau và về những ý kiến phát biểu trong cuộc tranh luận, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1609 §4.

§3. Hơn nữa, mỗi khi bản chất của vụ án hay của các chứng cớ có tính cách đặc biệt đến nỗi việc phổ biến các án từ hay các chứng cớ có nguy cơ làm mất thanh danh của người khác, hay làm cớ chia rẽ, gây gương xấu hay những sự bất tiện khác, thẩm phán có thể bắt buộc các nhân chứng, các chuyên viên, các bên, các luật sư hay các người đại diện của mỗi bên, phải thề giữ bí mật.

Điều 1456

Cấm các thẩm phán và tất cả các viên chức của tòa án nhận bất cứ quà tặng nào nhân dịp xét xử vụ án.

Điều 1457

§1. Những thẩm phán nào có thẩm quyền cách chắc chắn và hiển nhiên mà lại từ chối xét xử, hoặc những thẩm phán nào tự xưng mình có thẩm quyền khi không dựa trên một nền tảng nào theo quy dịnh của luật, mà lại xét xử và phán quyết các vụ án, hoặc vi phạm luật giữ bí mật, hoặc gây ra một thiệt hại khác cho những người tranh tụng, do man trá hay do quá lơ đễnh, có thể bị nhà chức trách có thẩm quyền trừng trị bằng những hình phạt thích đáng, kể cả việc bãi nhiệm.

§2. Những viên chức và những cộng tác viên của tòa án cũng phải chịu các chế tài như vậy, nếu họ không chu toàn nhiệm vụ như vừa nói trên đây; thẩm phán cũng có thể phạt tất cả những người ấy.

CHƯƠNG 2
TRÌNH TỰ CỦA VIỆC XÉT XỬ

Điều 1458

Các vụ án phải được xét xử theo trình tự đã được đệ trình và đăng ký trong sổ, trừ khi có một vụ án trong các số vụ án đó đòi phải được giải quyết nhanh hơn tất cả các vụ án khác, tuy nhiên điều này phải được ấn định bằng một sắc lệnh riêng có viện dẫn lý do.

Điều 1459

§1. Những hà tỳ khiến cho bản án có thể trở nên vô hiệu, có thể được nêu lên như khước biện trong bất cứ lúc nào hay ở bất cứ cấp nào của việc xét xử, và cũng có thể được thẩm phán công bố chiếu theo chức vụ.

§2. Ngoài những trường hợp nói ở §1, những khước biện trì hoãn, đặc biệt là những khước biện liên quan đến thể nhân và cách thức xét xử, phải được đề trình trước giai đoạn đối tụng, trừ khi các khước biện ấy xuất hiện sau đó, và chúng phải được giải quyết sớm hết sức.

Điều 1460

§1. Nếu có một khước biện được đưa ra chống lại thẩm quyền của thẩm phán, thì chính thẩm phán phải xét xử khước biện này.

§2. Trong trường hợp có khước biện về sự vô thẩm quyền tương đối, nếu thẩm phán nào tuyên bố mình có thẩm quyền thì quyết định của thẩm phán đó không cho phép kháng cáo, nhưng không cấm tranh luận về tính vô hiệu và không cấm việc phục hồi nguyên trạng.

§3. Nếu thẩm phán tuyên bố mình vô thẩm quyền, bên thấy mình bị thiệt hại có thể chống án lên tòa kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày hữu dụng.

Điều 1461

Trong bất cứ giai đoạn nào của vụ án, thẩm phán nào biết mình vô thẩm quyền tuyệt đối, thì phải công bố sự vô thẩm quyền này.

Điều 1462

§1. Những khước biện về vấn đề quyết tụng, về sự điều đình và về các khước biện thất hiệu khác, được gọi là về tố tụng chấm dứt, phải được viện dẫn và xét xử trước khi đối tụng; sau đó, ai nêu lên các khước biện thì không thể bị bác bỏ, nhưng họ sẽ phải chịu phạt trả án phí, trừ khi chứng minh được rằng mình đã không trì hoãn việc khước biện vì gian ý.

§2. Những khước biện thất hiệu khác được nêu ra trong lúc đối tụng và phải được cứu xét đúng lúc theo những quy luật liên quan đến các vấn đề phụ.

Điều 1463

§1. Những tố quyền phản tố chỉ có thể được đệ trình thành sự trong vòng ba mươi ngày kể từ lúc đối tụng.

§2. Những tố quyền phản tố đó sẽ được xét xử cùng một lúc với tố quyền khởi tố, tức là ở cùng một cấp tòa án, trừ khi cần phải xét xử riêng biệt hoặc khi thẩm phán nhận thấy xét xử riêng biệt là thuận tiện hơn.

Điều 1464

Những vấn đề liên quan đến tiền ký quỹ để trả án phí, hoặc đến việc tòa án bảo trợ miễn phí đã được xin ngay từ đầu, và những vấn đề tương tự khác, bình thường phải được giải quyết trước khi đối tụng.

CHƯƠNG 3
CÁC HẠN KỲ VÀ TRIỂN HẠN

Điều 1465

§1. Hạn kỳ tiên định, tức là thời hạn do luật ấn định để tiêu hủy các quyền lợi, không thể được gia hạn thêm và cũng không thể rút ngắn lại cách thành sự trừ khi có sự thỉnh cầu của các bên.

§2. Tuy nhiên, với một lý do chính đáng, những hạn kỳ tư pháp và quy ước có thể được thẩm phán gia hạn thêm trước khi chúng hết hạn, sau khi đã nghe các bên hoặc sau khi các bên đã xin, nhưng không bao giờ được rút ngắn lại cách thành sự, nếu không có sự đồng ý của các bên.

§3. Những thẩm phán phải lo liệu đừng để vụ án kéo dài quá đáng do việc gia hạn.

Điều 1466

Khi luật không ấn định những hạn kỳ để thực hiện những hành vi tố tụng, thẩm phán phải ấn định những hạn kỳ ấy, sau khi đã lưu ý tới bản chất của mỗi hành vi.

Điều 1467

Nếu tòa án nghỉ việc vào ngày đã được ấn định để xử án, thì phải hiểu là hạn kỳ được gia hạn thêm đến ngày đầu tiên liền sau đó không phải là ngày nghỉ.

CHƯƠNG 4
NƠI XÉT XỬ

Điều 1468

Ngần nào có thể được, trụ sở của mỗi tòa án phải cố định và phải mở cửa vào những giờ đã được ấn định.

Điều 1469

§1. Vị thẩm phán nào bị trục xuất ra khỏi địa hạt của mình do bạo lực hay bị ngăn trở thi hành quyền tài phán ở đó, thì có thể thi hành quyền tài phán ấy và tuyên án ngoài địa hạt của mình, nhưng phải thông báo cho Giám Mục giáo phận biết việc ấy.

§2. Ngoài trường hợp nói ở §1, vì một lý do chính đáng và sau khi đã nghe các bên, thẩm phán có thể ra khỏi địa hạt của mình để thu thập các chứng cớ, nhưng phải có phép của Giám Mục giáo phận nơi đến và phải ở tại nơi do ngài chỉ định.

CHƯƠNG 5
NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC NHẬN VÀO PHÒNG XỬ
CÁCH THỨC SOẠN THẢO VÀ LƯU TRỮ ÁN TỪ

Điều 1470

§1. Nếu luật riêng không dự liệu cách khác, thì đang khi vụ án được xét xử trước tòa, chỉ những người mà luật hoặc thẩm phán ấn định là cần thiết để xúc tiến việc tố tụng mới được có mặt trong phòng xử.

§2. Đối với tất cả những ai có mặt tại phiên xử đã có lỗi nặng do thiếu sự tôn trọng và vâng phục phải có tại tòa án, thẩm phán có thể dùng những hình phạt xứng hợp để nhắc nhở nhiệm vụ của họ; ngoài ra, thẩm phán cũng có thể đình hoãn không cho các luật sư và các người đại diện thi hành chức vụ của họ tại các tòa án của Giáo Hội.

Điều 1471

Nếu một người được thẩm vấn dùng một ngôn ngữ mà thẩm phán hoặc các bên không hiểu, thì phải nhờ đến một thông ngôn đã tuyên thệ do thẩm phán chỉ định. Các lời khai phải ghi lại bằng nguyên ngữ trên giấy tờ và kèm theo bản dịch. Cũng phải nhờ đến thông ngôn, nếu phải thẩm vấn một người điếc hay một người câm, trừ khi thẩm phán muốn những câu hỏi mình đặt ra được trả lời trên giấy tờ.

Điều 1472

§1. Các án từ tư pháp liên quan đến nội dung vấn đề, tức là những án từ của vụ án, cũng như những án từ liên quan đến tiến trình của thủ tục, tức là những án từ tố tụng, đều phải được soạn thảo trên giấy tờ.

§2. Mỗi tờ án từ phải được ghi số và phải được đóng dấu chứng thực.

Điều 1473

Mỗi khi đòi các bên hoặc các nhân chứng phải ký tên vào những án từ tư pháp, nếu một bên hay một nhân chứng không thể hay không muốn ký, điều đó phải được ghi trong những án từ, đồng thời, thẩm phán và công chứng viên phải chứng thực rằng chính án từ đó đã được đọc từ chữ cho bên đó hoặc cho nhân chứng nghe, và bên đó hoặc những nhân chứng đã không thể ký hay không muốn ký.

Điều 1474

§1. Trong trường hợp kháng cáo, bản sao các án từ đã được công chứng viên chứng thực, phải được gửi lên tòa cấp trên.

§2. Nếu các án từ được soạn thảo bằng một ngôn ngữ mà tòa cấp trên không biết, thì phải được dịch ra một ngôn ngữ khác mà tòa đó biết và phải thận trọng để sự trung thực của bản dịch được bảo đảm.

Điều 1475

§1. Sau khi kết thúc việc xét xử, những tài liệu thuộc sở hữu của các tư nhân phải được trả lại cho họ, nhưng phải giữ lại một bản sao.

§2. nếu không có lệnh của thẩm phán, cấm các công chứng viên và chưởng ấn cấp phát bản sao những án từ tư pháp và những tài liệu đã thu thập được trong vụ tố tụng.

ĐỀ MỤC 4
CÁC BÊN TRONG VỤ ÁN

CHƯƠNG 1
NGUYÊN CÁO VÀ BỊ CÁO

Điều 1476

Bất cứ ai, đã được rửa tội hay không, đều có thể khởi tố; còn bên bị kiện cách hợp pháp phải trả lời.

Điều 1477

Mặc dù nguyên cáo hay bị cáo đã đặt người đại diện hay luật sư, họ luôn luôn phải đích thân hiện diện ở tòa theo quy định của luật hay của thẩm phán.

Điều 1478

§1. Những người vị thành niên và những người thiếu khả năng sử dụng lý trí chỉ có thể ra tòa qua trung gian cha mẹ, hoặc người giám hộ hay người quản tài, miễn là là vẫn giữ nguyên những quy định của §3.

§2. Nếu thẩm phán nhận thấy có sự xung đột giữa những quyền lợi của các người vị thành niên với những quyền lợi của cha mẹ, của người giám hộ hay của người quản tài, hoặc nhận thấy rằng những người này không thể bênh vực đầy đủ những quyền lợi của các người vị thành niên, thì các người vị thành niên này sẽ ra tòa qua trung gian người giám hộ hay người quản tài do thẩm phán chỉ định.

§3. Nhưng trong những vụ án thuộc phạm vi thiêng liêng và trong những vụ án liên quan đến phạm vi đó, nếu những người vị thành niên đã sử dụng được trí khôn, thì chúng có thể khởi tố và trả lời mà không cần sự ưng thuận của cha mẹ hay của người giám hộ, và nếu chúng đã đủ mười bốn tuổi trọn, chúng có thể tự mình khởi tố và trả lời; bằng không, chúng có thể nhờ người quản tài do thẩm phán đặt lên.

§4. Những người bị cấm quản trị tài sản và những người suy nhược tâm thần, chỉ có thể đích thân ra tòa để trả lời về những tội phạm của mình hoặc do lệnh của thẩm phán; trong những vụ án khác, họ phải nhờ những người quản tài của họ khởi tố và trả lời.

Điều 1479

Mỗi khi có một người giám hộ hoặc một quản tài được chính quyền dân sự đặt lên, người ấy có thể được thẩm phán của Giáo Hội chấp nhận sau khi đã hỏi ý kiến, nếu có thể được, của Giám Mục giáo phận của chính người được ủy thác cho người giám hộ hay quản tài; mà nếu người giám hộ hay quản tài ấy không có mặt hoặc xét là không chấp nhận được, thì chính thẩm phán sẽ chỉ định người giám hộ hay người quàn tài cho vụ án.

Điều 1480

§1. Các pháp nhân ra tòa qua những người đại diện hợp pháp của mình.

§2. Trong những trường hợp không có người đại diện hoặc người đại diện lơ đễnh, thì Đấng Bản Quyền có thể đích thân hay nhờ người khác ra tòa nhân danh các pháp nhân thuộc quyền mình.

CHƯƠNG 2
NHỮNG NGƯỜI ĐẠI DIỆN VÀ NHỮNG LUẬT SƯ.

Điều 1481

§1. Mỗi bên có thể tự ý đặt cho mình một luật sư và một người đại diện; nhưng ngoài những trường hợp được ấn định ở §§2 và 3, mỗi bên cũng có thể đích thân khởi tố và trả lời, trừ khi thẩm phán đã xét thấy thừa tác vụ của một người đại diện hoặc của một luật sư là cần thiết.

§2. Trong một vụ án hình sự, bị cáo luôn phải có một luật sư do họ tự đặt hoặc do thẩm phán đặt.

§3. Trong một vụ án hộ sự, nếu có liên quan đến các người vị thành niên hoặc liên quan đến một vụ án về công ích, ngoại trừ các vụ án về hôn nhân, vị thẩm phán, chiếu theo chức vụ, phải đặt một người biện hộ cho bên nào thiếu người biện hộ.

Điều 1482

§1. Một người chỉ có thể đặt cho mình một người đại diện và vị này không được nhờ người khác thay thế mình, nếu không có năng quyền minh thị cho phép.

§2. Tuy nhiên, vì một lý do chính đáng, nếu một người đã tự đặt cho mình nhiều người đại diện, thì những người này phải được chỉ định thế nào để giữa họ có thứ tự ưu tiên.

§3. Nhưng có thể đặt nhiều luật sư cùng một lúc;

Điều 1483

Người đại diện và luật sư phải là những người thành niên và có thanh danh; ngoài ra luật sư phải là người Công giáo, trừ khi Giám Mục giáo phận cho phép cách khác, và có bằng tiến sĩ giáo luật hoặc là người thực sự chuyên môn về giáo luật, và được Giám Mục đó chuẩn y.

Điều 1484

§1. Trước khi đảm nhận chức vụ, người đại diện và luật sư phải nộp một giấy ủy quyền chính thức ở tòa án.

§2. Tuy nhiên, để cho mọi quyền lợi khỏi bị tiêu hủy, thẩm phán có thể chấp nhận người đại diện mặc dầu người này hkông trình giấy ủy quyền, miễn là có một bảo chứng thích hợp, nếu cần; nhưng án từ sẽ vô hiệu, nếu quá hạn kỳ thất hiệu do thẩm phán ấn định, mà người đại diện không trình giấy ủy quyền cách hợp pháp.

Điều 1485

Nếu không có một giấy ủy quyền đặc biệt, người đại diện không thể khuớc từ tố quyền, việc tiến hành tố tụng hay những hành vi tư pháp một cách hữu hiệu; họ cũng không thể điều đình, không thể thoả hiệp, không thể nhờ trọng tài dàn xếp, và nói chung, không thể thực hiện hành vi nào mà luật pháp đòi hỏi phải có một giấy ủy quyền đặc biệt.

Điều 1486

§1. Để việc giải nhiệm một người đại diện hay một luật sư có hiệu lực, cần phải thông tri cho họ biết việc đó, và nếu việc đối tụng đã bắt đầu, cần phải thông tri cho thẩm phán và bên đối phương biết việc giải nhiệm đó.

§2. Sau khi đã tuyên án chung kết, người đại diện vẫn còn quyền lợi và nghĩa vụ kháng cáo, nếu người chủ ủy không từ chối.

Điều 1487

Vì một lý do hệ trọng, người đại diện cũng như luật sư có thể bị bãi chức do sắc lệnh của thẩm phán ban hành chiếu theo chức vụ, hoặc do một bên yêu cầu.

Điều 1488

§1. Cấm người đại diện và luật sư mua chuộc quyền lợi đang tranh tụng, hoặc thoả hiệp để đòi thù lao quá mức, hay để chia phần đồ vật đang tranh tụng. Sự thoả hiệp như thế, nếu có, sẽ vô hiệu, và họ có thể bị thẩm phán phạt tiền; ngoài ra, luật sư có thể bị đình chỉ chức vụ và nếu tái phạm, cũng có thể bị Giám Mục chủ trì tòa án khai trừ khỏi danh sách các luật sư.

§2. Những luật sư và những người đại diện nào bất chấp luật pháp, rút các vụ án ra khỏi những tòa án có thẩm quyền để những vụ án này được xét xử thuận lợi hơn ở những tòa án khác, thì cũng có thể bị phạt như thế.

Điều 1489

Những luật sư và những người đại diện nào, vì quà cáp hay vì lời hứa hẹn, hoặc vì lý do nào khác, đã phản bội nhiệm vụ mình, phải bị đình chỉ thi hành quyền bảo trợ và bị phạt tiền hay các hình phạt tương xứng khác.

Điều 1490

Theo mức độ có thể được, mỗi tòa án phải đặt những người biện hộ cố định được chính tòa án trả lương để thi hành nhiệm vụ luật sư hay người đại diện, nhất là trong những vụ án hôn nhân, để các bên có thể chọn lựa những người biện hộ trong số những người này.

ĐỀ MỤC 5
TỐ QUYỀN VÀ KHƯỚC BIỆN

CHƯƠNG 1
TỐ QUYỀN VÀ KHỨƠC BIỆN NÓI CHUNG

Điều 1491

Bất cứ quyền lợi nào cũng được bảo vệ chẳng những bởi tố quyền mà còn bởi khước biện nữa, trừ khi luật đã minh nhiên dự liệu cách khác.

Điều 1492

§1. Tố quyền nào cũng bị triệt tiêu do thời hiệu chiếu theo quy tắc của luật, hoặc do một cách thức hợp pháp khác, trừ những tố quyền liên quan đến tình trạng nhân thân, thì không bao giờ bị triệt tiêu.

§2. Khước biện luôn luôn có thể được viện dẫn và tự bản chất là vĩnh viễn, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1462.

Điều 1493

Nguyên cáo có thể đồng thời khởi tố một người bằng nhiều tố quyền không tương phản nhau về cùng một vấn đề hay nhiều vấn đề khác nhau, với điều kiện là những tố quyền này không vượt thẩm quyền của tòa án mà nguyên cáo nại đến.

Điều 1494

§1. Bị cáo có thể phản tố chống lại nguyên cáo trước cùng một thẩm phán và trong cùng một vụ án vì tố quyền chính có liên hệ đến vụ án, hoặc để bác bỏ hay để giảm thiểu yêu sách của nguyên cáo.

§2. Không chấp nhận đơn phản tố chống lại phản tố.

Điều 1495

Tố quyền phản tố phải được trình cho thẩm phán đã nhận tố quyền đầu tiên, cho dù thẩm phán ấy chỉ được ủy nhiệm để xử một vụ án mà thôi, hay cho dù thẩm phán ấy vô thẩm quyền tương đối vì lý do nào khác.

CHƯƠNG 2
TỐ QUYỀN VÀ KHƯỚC BIỆN NÓI RIÊNG

Điều 1496

§1. Người nào dựa vào những luận cứ hữu lý chứng minh được rằng mình có quyền trên một sự vật mà kẻ khác đang cầm giữ, và mình sẽ bị thiệt hại nếu sự vật ấy không được trả lại cho mình gìn giữ, thì người đó có quyền xin thẩm phán cho tạm chiếm hữu sự vật ấy.

§2. Trong những hoàn cảnh tương tự, người ấy có thể được quyền ngăn cản người khác hành sử một quyền.

Điều 1497

§1. Việc tạm chiếm hữu một vật cũng được chấp nhận để bảo đảm sự an toàn của một khoản nợ, miễn là quyền của chủ nợ được chứng minh đầy đủ.

§2. Việc chiếm hữu tạm thời có thể áp dụng đối với các tài sản của con nợ đang nằm trong tay một đệ tam nhân dưới một danh nghĩa nào đó, và cũng có thể áp dụng đối với những khoản nợ khác của con nợ.

Điều 1498

Việc tạm chiếm hữu một vật và việc cấm hành sử một quyền không bao giờ có thể được công bố, nếu sự thiệt hại đáng ngại có thể được bồi thừơng cách khác, và nếu có một bảo chứng đầu đủ cho việc bồi thường.

Điều 1499

Thẩm phán có thể áp đặt người được quyền tạm chiếm hữu một vật hay bị cấm hành sử một quyền phải nạp một bảo chứng trước để bồi thường những thiệt hại, nếu người ấy không chứng minh được quyền lợi của mình.

Điều 1500

Về bản chất và hiệu lực của tố quyền sở hữu, phải tuân giữ những quy định của luật dân sự ở nơi tọa lạc sự vật đang bị tranh tụng về quyền sở hữu.

PHẦN II
TỐ TỤNG HỘ SỰ

THIÊN 1
TỐ TỤNG HỘ SỰ THÔNG THƯỜNG

ĐỀ MỤC 1
KHỞI TỐ VỤ ÁN

CHƯƠNG 1
ĐƠN KHỞI TỐ

Điều 1501

Thẩm phán không được xét xử bất cứ vụ án nào, nếu không có đơn thỉnh nguyện do người có lợi ích hay do công tố viên, chiếu theo quy tắc của các điều luật.

Điều 1502

Ai muốn khởi tố một người nào phải đệ đơn lên thẩm phán có thẩm quyền, trong đơn phải trình bày đối tượng của sự tranh tụng và phải xin thẩm phán xét xử.

Điều 1503

§1. Thẩm phán có thể nhận lời thỉnh cầu miệng mỗi khi nguyên cáo bị ngăn trở không đệ đơn được, hay khi vụ án dễ cứu xét và không mấy quan trọng.

§2. Tuy nhiên, trong cả hai trường hợp này, thẩm phán phải truyền cho công chứng viên soạn thảo án từ trên giấy tờ, để đọc cho nguyên cáo nghe và để nguyên cáo chấp thuận, và án từ này thay thế đơn khởi tố của nguyên cáo xét về mọi hiệu lực pháp lý.

Điều 1504

Đơn khởi tố phải:

10 bày tỏ cho biết vụ án được khởi tố trước thẩm phán nào, yêu cầu điều gì và với ai;

20 chỉ rõ nguyên cáo căn cứ vào luật nào, vào những sự kiện nào và vào những chứng cớ nào, ít là cách sơ lược, để xác minh những điều mình viện dẫn;

30 được nguyên cáo hay người đại diện ký, phải để ngày, tháng và năm, cũng như địa chỉ của nguyên cáo và của người đại diện cư ngụ, hoặc những địa chỉ do họ chọn để nhận những án từ.

Điều 1505

§1. Sau khi đã xác nhận vụ kiện thuộc thẩm quyền của mình và nguyên cáo có đủ tư cách hợp pháp để ra toà, thẩm phán duy nhất hay vị chánh án tòa án hiệp đoàn phải ra sắc lệnh chấp đơn hay bác đơn sớm nhất.

§2. Đơn chỉ có thể bị bác:

10 nếu thẩm phán hay tòa án không có thẩm quyền;

20 nếu chắc chắn rằng nguyên cáo không có tư cách hợp pháp để khởi tố;

30 nếu không tôn trọng những quy định của điều 1504, 10-30;

40 nếu chắc chắn rằng, qua đơn khởi tố, sự thỉnh cầu thiếu mọi nền tảng và nếu chắc chắn rằng không thể tìm thấy một nền tảng nào qua tiến trình tố tụng.

§3. Nếu đã bị bác và những hà tỳ có thể sửa chữa được, nguyên cáo có thể soạn thảo đúng cách một đơn khởi tố mới để trình lại cho cùng vị thẩm phán đó.

§4. Trong trường hợp đơn bị bác, trong thời gian mười ngày, nguyên cáo luôn luôn có trọn quyền đệ đơn kháng cáo có viện dẫn lý do lên tòa kháng cáo hoặc lên thẩm phán đoàn, nếu đơn đã bị vị chánh án hiệp đoàn bác bỏ; vấn đề bác đơn này phải được giải quyết nhanh hết sức có thể.

Điều 1506

Nếu quá hạn định một tháng tính từ lúc nộp đơn, mà thẩm phán vẫn không ra sắc lệnh chấp đơn hay bác đơn, chiếu theo quy tắc của điều 1505, bên liên hệ có thể yêu cầu thẩm phán thi hành nhiệm vụ của mình; nếu quá mười ngày, kể từ ngày yêu cầu, mà thẩm phán vẫn không trả lời, thì coi như đơn đã được chấp nhận.

CHƯƠNG 2
TRIỆU TẬP VÀ THÔNG BÁO CÁC ÁN TỪ

Điều 1507

§1. Trong sắc lệnh chấp nhận đơn của nguyên cáo, thẩm phán hay vị chánh án phải mời hay triệu tập các đương sự khác ra tòa để xác định đối tượng tranh tụng, bằng việc quyết định cho các đương sự này phải trả lời bằng giấy tờ hay phải trình diện trước mặt mình để thoả thuận với nhau về những nghi vấn. Nếu những câu trả lời bằng giấy tờ cho thấy sự cần thiết phải triệu tập các bên, thẩm phán hay vị chánh án có thể ấn định điều đó bằng một sắc lệnh mới.

§2. Nếu đơn được xem là được chấp nhận chiếu theo quy tắc của điều 1506, sắc lệnh triệu tập ra tòa phải được ban hành trong vòng hai mươi ngày kể từ ngày yêu cầu, như nói ở điều ấy.

§3. Nếu trong thực tế các bên đối tụng tự động đến trình diện trước thẩm phán để giải quyết vụ án thì không cần phải triệu tập nữa, nhưng một công chứng viên phải ghi chú trong các án từ là các bên đã có mặt tại toà.

Điều 1508

§1. Sắc lệnh triệu tập ra tòa phải được thông báo ngay cho bị cáo và đồng thời cũng phải được thông báo cho những người nào phải ra trình diện.

§2. Đơn khởi tố phải đính kèm với lệnh triệu tập, trừ khi vì những lý do quan trọng, thẩm phán nhận thấy không cần cho bị cáo biệt đơn đó, trước khi người này cung khai tại toà.

§3. Nếu vụ kiện nhằm chống lại người không được tự do sử dụng các quyền của mình hay không được tự do quản trị những tài sản đang bị tranh chấp, thì lệnh triệu tập phải được thông báo, tùy trường hợp, cho người giám hộ, cho người quản tài, cho người đại diện đặc biệt hay cho người nào phải bảo vệ vụ án nhân danh bị cáo chiếu theo luật.

Điều 1509

§1. Việc thông báo các giấy triệu tập, các sắc lệnh, các phán quyết và các án từ tư pháp khác phải được thực hiện qua bưu điện hay bằng cách nào chắc chắn nhất, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của luật địa phương.

§2. Sự kiện và cách thức thông báo phải được ghi chú trong các án từ.

Điều 1510

Bị cáo nào từ chối không nhận giấy triệu tập hay ngăn cản không cho giấy triệu tập đến tay mình, thì được coi như đã được triệu tập cách hợp lệ.

Điều 1511

Nếu lệnh triệu tập không được thông báo cách hợp pháp, các án từ của vụ kiện đều vô hiệu, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1507 §3.

Điều 15012

Khi lệnh triệu tập đã được thông báo cách hợp pháp, hoặc các bên đã ra trình diện trước thẩm phán để giải quyết vụ án:

10 sự việc không còn ở nguyên trạng nữa;

20 vụ án thuộc riêng về thẩm phán hoặc về tòa án có thẩm quyền là nơi đơn khởi tố đã được nộp;

30 quyền tài phán của thẩm phán thụ ủy được củng cố đến nỗi quyền này không chấm dứt, ngay cả khi cả người chủ ủy hết quyền;

40 thời hiệu bị gián đoạn, trừ khi đã dự liệu cách khác;

50 cuộc tranh tụng bắt đầu; vì vậy phải lập tức áp dụng nguyên tắc: "bao lâu cuộc tranh tụng chưa ngã ngũ thì không được thay đổi gì hết".

ĐỀ MỤC 2
ĐỐI TỤNG

Điều 1513

§1. Cuộc đối tụng xảy ra khi thẩm phán ra sắc lệnh xác định những giới hạn của cuộc tranh tụng được rút ra từ những lời thỉnh cầu và những phúc đáp của các bên.

§2. Những lời thỉnh cầu và những phúc đáp của các bên, ngoài điều trình bày trong đơn khởi tố, có thể được diễn tả qua thư phúc đáp lệnh triệu tập hoặc qua những lời tuyên bố bằng miệng trước thẩm phán; nhưng trong những vụ án khó hơn, thẩm phán phải triệu tập các bên để thỏa thuận với nhau về một hay những nghi vấn phải được trả lời trong văn bản.

§3. Sắc lệnh của thẩm phán phải được thông báo cho các bên, nếu họ không đồng ý, thì trong hạn mười ngày, họ có thể kháng cáo lên chính thẩm phán để xin sửa đổi sắc lệnh; nhưng vấn đề này phải được chính thẩm phán đó giải quyết hết sức nhanh chóng bằng một sắc lệnh.

Điều 1514

Một khi đã được xác định, những giới hạn của việc tranh tụng chỉ có thể được sửa đổi cách hữu hiệu bằng một sắc lệnh mới, vì một lý do hệ trọng, theo sự thỉnh cầu của một đương sự, sau khi đã nghe ý kiến của những đương sự khác cũng như đã cân nhắc những lý lẽ của họ.

Điều 1515

Sau cuộc đối tụng, người chấp hữu của cải của kẻ khác không còn là ngay tình nữa, vì thế, nếu bị kết án phải hoàn lại của cải ấy, họ cũng phải trả lại những hoa lợi thu được kể từ ngày đối tụng và phải bồi thường các thiệt hại.

Điều 1516

Sau cuộc đối tụng, thẩm phán phải ấn định cho các bên một khoảng thời gian thích hợp để họ xuất trình và bổ sung những chứng cớ.

ĐỀ MỤC 3
TIẾN HÀNH VỤ KIỆN

Điều 1517

Vụ kiện bắt đầu từ lệnh triệu tập, nhưng chấm dứt không những bằng việc tuyên án chung kết, mà còn bằng những cách thức khác do luật ấn định trước.

Điều 1518

Trong trường hợp một bên đối tụng chết hoặc thay đổi hoàn cảnh sống hoặc chấm dứt chức vụ mà họ căn cứ vào đó để khởi tố:

10 nếu việc thẩm vấn vụ án chưa kết thúc, vụ kiện phải được đình hoãn cho đến khi người kế thừa của người quá cố hoặc người kế vị hoặc người có quyền tiếp tục vụ kiện;

20 nếu việc thẩm vấn vụ án đã kết thúc, thẩm phán phải tiếp thụ vụ kiện bằng việc triệu tập người đại diện, nếu có, bằng không, triệu tập người thừa kế hay người kế vị của người quá cố.

Điều 1519

§1. Nếu người giám hộ hay người quản tài hay người đại diện cần phải có chiếu theo điều 1481 §§1 và 3, chấm dứt nhiệm vụ, thì vụ kiện được tạm thời đình hoãn.

§2. Nhưng thẩm phán phải sớm hết sức đặt một người giám hộ hay một người quản tài khác, thẩm phán cũng có thể đặt một người đại diện cho cuộc tranh tụng, nếu đương sự lơ là làm việc đó trong thời hạn ngắn do chính thẩm phán ấn định.

Điều 1520

Nếu trong vòng sáu tháng mà các bên không thực hiện một hành vi tố tụng nào, mặc dầu họ không bị ngăn trở gì, thì vụ án thất hiệu. Luật địa phương có thể ấn định hạn kỳ thất hiệu khác.

Điều 1521

Sự thất hiệu có giá trị do chính luật và chống lại tất cả mọi người, kể cả những người vị thành niên hay những người được đồng hóa với người vị thành niên, và cũng phải được tuyên bố chiếu theo chức vụ, miễn là vẫn giữ nguyên quyền đòi những người giám hộ, những người quản tài, những người đại diện phải bồi thường, nếu họ không chứng minh được họ không có lỗi.

Điều 1522

Sự thất hiệu vô hiệu hóa những án từ tố tụng chứ không vô hiệu hóa những án từ của vụ án; hơn nữa, những án từ của vụ án còn có thể có hiệu lực ở tòa án cấp khác, miễn là vụ án có dính líu đến cùng những nhân vật ấy và nhằm cùng một vấn đề; nhưng đối với những người ngoài cuộc, những án từ chỉ có giá trị như là tài liệu mà thôi.

Điều 1523

Mỗi bên phải trang trải những phí tổn của một vụ án bị thất hiệu do chính họ gây ra từ những sự tranh tụng.

Điều 1524

§1. Nguyên cáo có thể bãi nại ở bất cứ giai đoạn nào và bất cứ cấp bậc nào của vụ kiện; cũng thế, cả nguyên cáo lẫn bị cáo có thể khước từ tất cả mọi án từ tố tụng hay chỉ một vài án từ tố tụng trong số đó mà thôi.

§2. để có thể bãi nại, những người giám hộ và những người quản trị của các pháp nhân cần có ý kiến hay sự đồng ý của những người mà sự cộng tác của họ là cần thiết để thực hiện những hành vi vượt quá giới hạn của việc quản trị thông thường.

§3. Để có hiệu lực, việc bãi nại phải được viết trên giấy tờ, và phải do một bên hoặc do người đại diện của họ ký, nhưng người đại diện phải có giấy ủy nhiệm đặc biệt; việc bãi nại phải được thông báo cho bên kia và được bên kia chấp nhận, hay ít là không bị phản đối, và phải được thẩm phán chấp nhận.

Điều 1525

Một khi đã được thẩm phán chấp nhận, việc bãi nại có cùng những hiệu quả như sự thất hiệu của vụ kiện đối với những án từ đã bị khước từ và việc bãi nại cũng buộc người bãi nại phải gánh chịu những phí tổn của những án từ mà họ đã khước từ.

ĐỀ MỤC 4
CHỨNG CỚ

Điều 1526

§1. Ai đã quả quyết thì có nghĩa vụ phải chứng minh.

§2. Không cần phải trưng dẫn chứng cớ:

10 những điều do chính luật suy đoán;

20 những sự kiện do một bên tranh tụng quả quyết và được bên kia thừa nhận, nhưng trừ khi luật hoặc thẩm phán đòi thêm chứng cớ.

Điều 1527

§1. Có thể viện dẫn bất cứ loại chứng cớ nào, miễn là những chứng cớ này được xem là hữu ích để thẩm cứu vụ án và phải hợp pháp.

§2. Nếu một bên yêu cầu thừa nhận một chứng cớ đã bị thẩm phán loại bỏ, thì chính thẩm phán này phải giải quyết vấn đề hết sức nhanh chóng.

Điều 1528

Nếu một bên hay một nhân chứng từ chối trình diện để trả lời trước thẩm phán, thì được phép hỏi cung họ kể cả việc nhờ một giáo dân do thẩm phán chỉ định hoặc yêu cầu họ khai trước mặt một công chứng viên dân sự hay bằng bất cứ cách thức hợp thức nào khác.

Điều 1529

Thẩm phán không được tiến hành việc thu thập chứng cớ trước khi có đối tụng, trừ khi có một lý do nghiêm trọng.

CHƯƠNG 1
LỜI KHAI CỦA CÁC BÊN

Điều 1530

Thẩm phán luôn luôn có thể thẩm vấn các bên để phát hiện rõ sự thật, hơn nữa, thẩm phán phải làm việc đó khi một bên yêu cầu hay để chứng minh một sự kiện mà công ích đòi phải được đặt ra ngoài mọi sự hồ nghi.

Điều 1531

§1. Đương sự nào được thẩm vấn cách hợp pháp buộc phải trả lời và phải nói hết sự thật.

§2. Nếu đương sự từ chối trả lời, thẩm phán thẩm định xem điều gì có thể được rút ra từ đó để chứng minh các sự kiện.

Điều 1532

Trong những trường hợp liên quan đến công ích, thẩm phán yêu cầu các bên phải thề là họ sẽ nói sự thật, hoặc ít nhất họ phải thề là họ đã nói sự thật, trừ khi có một lý do nghiêm trọng khuyên làm cách khác; trong những trường hợp khác, thẩm phán có thể làm điều đó tùy sự khôn ngoan của mình.

Điều 1533

Các bên, công tố viên và bảo hệ viên có thể đệ trình cho thẩm phán những câu hỏi mà dựa theo đó một bên sẽ bị thẩm vấn.

Điều 1534

Các quy tắc được ấn định ở các điều 1548 §2, 10, 1552 và 1558-1565 về các nhân chứng, cũng được áp dụng thích hợp trong việc thẩm vấn các bên.

Điều 1535

Lời tự thú tư pháp là lời thú nhận rằng một sự kiện liên quan đến chính đối tượng của vụ án đi ngược lại quyền lợi riêng của mình, do một bên nói miệng hoặc viết trên giấy tờ, hoặc tự ý hoặc do thẩm phán hỏi cung, trước mặt thẩm phán có thẩm quyền.

Điều 1536

§1. Lời tự thú tư pháp của một đương sự, nếu thuộc một vấn đề riêng tư và không liên quan đến công ích, thì miễn chuẩn cho các đương sự khác khỏi phải trưng dẫn chứng cớ.

§2. Tuy nhiên, trong những vụ án liên quan đến công ích, lời tự thú tư pháp và những lời khai không có tính cách tự thú của các bên, có thể có giá trị chứng minh, thẩm phán phải thẩm định lời tự thú tư pháp và những lời khai đó trong tương quan với những yếu tố khác của vụ án; nhưng chúng không thể có giá trị chứng minh hoàn toàn nếu không được xác minh bằng những yếu tố vững chắc khác.

Điều 1537

Đối với lời tự thú ngoài tư pháp được trưng dẫn trong một vụ kiện, thẩm phán phải thẩm định xem lời tự thú đó có giá trị đến mức nào, sau khi đã cân nhắc tất cả mọi hoàn cảnh của vụ án.

Điều 1538

Một lời tự thú hay bất cứ lời khai nào khác của một đương sự sẽ không có giá trị, nếu xác nhận được rằng sự tự thú dựa trên sự lầm lẫn về sự kiện hoặc vì bạo lực hay vì một sự sợ hãi nghiêm trọng.

CHƯƠNG 2
CHỨNG MINH BẰNG TÀI LIỆU

Điều 1539

Việc chứng minh bằng tài liệu, công cũng như tư, được chấp nhận trong bất cứ vụ kiện nào.

TIẾT 1
BẢN CHẤT VÀ GIÁ TRỊ CHỨNG MINH CỦA CÁC TÀI LIỆU

Điều 1540

§1. Những tài liệu công của Giáo Hội là những tài liệu do một viên chức soạn thảo khi thi hành nhiệm vụ của mình trong Giáo Hội, trong khi vẫn tuân giữ những thể thức do luật quy định.

§2. Những tài liệu công dân sự là những tài liệu mà luật pháp địa phương công nhận như thế.

§3. Những tài liệu khác là những tài liệu tư.

Điều 1541

Trừ khi có những luận cứ trái ngược và hiển nhiên chứng minh cách khác, những tài liệu công chứng thực tất cả những điều được quả quyết trực tiếp và chính yếu trong đó.

Điều 1542

Một tài liệu tư, do một bên thừa nhận hay được thẩm phán chấp nhận, có hiệu lực chứng minh như lời tự thú ngoài tư pháp chống lại tác giả hay người ký tên và những người kế quyền của họ; đối với những đệ tam nhân, tài liệu nói trên chỉ có hiệu lực chứng minh như những lời khai không có tính cách tự thú của các bên, chiếu theo quy tắc của điều 1536 §2.

Điều 1543

Nếu chứng minh được rằng các tài liệu có những vết tẩy xóa, sửa chữa, thêm thắt hay hà tỳ nào khác, thẩm phán thẩm định xem tài liệu ấy có đáng tin không và đáng tin tới mức nào.

TIẾT 2
XUẤT TRÌNH TÀI LIỆU

Điều 1544

Những tài liệu không có hiệu lực chứng minh trong một vụ kiện, nếu đó không phải là những bản chính hoặc những bản sao đã được công chứng và nếu không được đệ nạp ở văn phòng tòa án, để thẩm phán và đối phương có thể nghiên cứu được.

Điều 1545

Thẩm phán có quyền ra lệnh xuất trình trong vụ kiện một tài liệu chung cho cả hai bên.

Điều 1546

§1. Không ai bị bắt buộc phải xuất trình những tài liệu, dù là những tài liệu chung, khi việc trao đổi những tài liệu ấy có nguy cơ gây ra thiệt hại, chiếu theo quy tắc của điều 1548 §2, 20, hoặc có nguy cơ vi phạm việc giữ bí mật.

§2. Tuy nhiên, nếu có thể trích lục ít là một phần nào đó của tài liệu và trình bày dưới dạng bản sao mà không gây ra những bất tiện nêu trên, thì thẩm phán có thể ra lệnh xuất trình phần tài liệu ấy.

CHƯƠNG 3
CÁC NHÂN CHỨNG VÀ VIỆC LÀM CHỨNG

Điều 1547

Bằng chứng qua các nhân chứng được chấp nhận trong bất cứ vụ án nào, dưới sự điều hành của thẩm phán.

Điều 1548

§1. Các nhân chứng phải nói sự thật khi họ được thẩm phán hỏi cách hợp pháp.

§2. Miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1550 §2, 20, những người sau đây được miễn trả lời:

10 các giáo sĩ trong những vấn đề để họ biết được do tác vụ thánh; các viên chức dân sự, các thầy thuốc, các nữ hộ sinh, các luật sư, các công chứng viên và tất cả những người buộc phải giữ bí mật nghề nghiệp, kể cả những người mang danh hiệu cố vấn, trong tất cả những vấn đề thuộc về bí mật này;

20 những người sợ rằng việc làm chứng của họ sẽ làm cho chính bản thân họ, hoặc cho người phối ngẫu, hoặc cho những thân nhân thuộc họ máu hay họ kết bạn, bị mất thanh danh, bị đối xử tàn tệ, hay bị những hiểm họa khác.

TIẾT 1
NHỮNG NGƯỜI CÓ THỂ LÀM CHỨNG

Điều 1549

Tất cả mọi người đều có thể làm chứng, nếu họ không bị luật minh nhiên loại bỏ hoàn toàn hay một phần.

Điều 1550

§1. Những người vị thành niên dưới mười bốn tuổi và những người suy nhược tâm thần không được nhận làm nhân chứng, nhưng họ có thể được hỏi ý kiến do sắc lệnh của thẩm phán tuyên bố rằng điều đó hữu ích.

§2. Những người sau đây được coi là không có khả năng làm chứng:

10 các bên trong vụ án, hoặc những người đại diện cho các bên trước tòa, thẩm phán và những người trợ tá của thẩm phán, luật sư và những người khác đang hay đã giúp đỡ các bên trong cùng một vụ án;

20 các tư tế trong tất cả những điều họ biết được do việc thú tội trong bí tích Sám Hối, ngay cả khi hối nhân yêu cầu tiết lộ những điều ấy; hơn nữa, những gì nghe được do bất cứ ai và bằng bất cứ cách nào nhân dịp thú tội, cũng không thể được chấp nhận, dù chỉ như là dấu hiệu của sự thật.

TIẾT 2
CHẤP NHẬN VÀ LOẠI TRỪ NHÂN CHỨNG

Điều 1551

Bên nào đã đưa một nhân chứng ra tòa, thì có thể khước từ việc thẩm vấn nhân chứng ấy; nhưng đối phương có thể yêu cầu cứ thẩm vấn nhân chứng ấy.

Điều 1552

§1. Khi được yêu cầu lấy chứng cớ qua các nhân chứng, thì phải cho tòa án biết tên và nơi cư trú của họ.

§2. Trong thời hạn do thẩm phán ấn định, phải trình bày những điểm nào muốn yêu cầu để thẩm vấn những nhân chứng; bằng không, lời yêu cầu sẽ được xem như đã bị hủy bỏ.

Điều 1553

Thẩm phán phải hạn chế đừng để cho có quá nhiều nhân chứng.

Điều 1554

Trước khi thẩm vấn các nhân chứng, phải thông báo tên của họ cho các bên; nhưng nếu theo sự thẩm định khôn ngoan của mình, thẩm phán thấy điều đó không thể thực hiện được mà không gây khó khăn nghiêm trọng, thì ít nhất phải thông báo tên của các nhân chứng trước khi công bố các lời chứng.

Điều 1555

Miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1550, một bên có thể yêu cầu loại bỏ một nhân chứng, nếu có một lý do chính đáng để loại bỏ, trước khi nhân chứng ấy cung khai.

Điều 1556

Việc triệu tập một nhân chứng phải được thực hiện do sắc lệnh của thẩm phán, sắc lệnh này được thông báo cho nhân chứng cách hợp pháp.

Điều 1557

Một nhân chứng được triệu tập cách hợp pháp thì phải trình diện hoặc phải cho thẩm phán biết lý do vắng mặt của mình.

TIẾT 3
THẨM VẤN CÁC NHÂN CHỨNG

Điều 1558

§1. Những nhân chứng phải được thẩm vấn tại chính trụ sở tòa án, trừ khi thẩm phán định cách khác.

§2. Các Hồng Y, các Thượng Phụ, các Giám Mục và những người được hưởng đặc ân tương tự theo luật quốc gia của họ, phải được thẩm vấn tại nơi do chính họ lựa chọn.

§3. Thẩm phán phải quyết định về nơi chốn để thẩm vấn những người không thể hay khó đến trụ sở tòa án vì xa xôi, vì bệnh tật hay vì một ngăn trở nào khác, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của các điều 1418 và 1469 §2.

Điều 1559

Các bên không được tham dự cuộc chấp cung các nhân chứng, trừ khi thẩm phán thẩm định là phải cho họ tham dự, cách riêng trong các vụ án việc liên quan đến tư ích. Tuy nhiên, những luật sư hay những người đại diện của họ có thể tham dự, trừ khi thẩm phán thẩm định phải tiến hành cách bí mật, vì những hoàn cảnh sự việc hay con người.

Điều 1560

§1. Các nhân chứng phải được thẩm vấn riêng từng người một.

§2. Nếu các nhân chứng bất đồng ý kiến với nhau hay với một bên về vấn đề quan trọng, thẩm phán có thể cho những người ấy gặp nhau, tức là đối chất với nhau, nhưng phải làm hết sức để tránh những bất hòa và gương xấu.

Điều 1561

Việc chấp cung các nhân chứng được thực hiện do thẩm phán hay do người được thẩm phán ủy nhiệm hoặc do một dự thẩm, và phải có sự hiện diện của công chứng viên; vì thế, trừ khi luật địa phương ấn định cách khác, nếu các bên, hay công tố viên, hay bảo hệ viên, hay những luật sư hiện diện trong cuộc chấp cung có điều gì muốn hỏi nhân chứng thì không được hỏi thẳng nhân chứng, nhưng phải đưa câu hỏi cho thẩm phán hay cho người thay thế thẩm phán, để chính người này hỏi lại nhân chứng.

Điều 1562

§1. Thẩm phán phải nhắc nhở, cho nhân chứng biết nghĩa vụ quan trọng phải nói hết mọi sự thật và chỉ nói sự thật mà thôi.

§2. Thẩm phán phải buộc nhân chứng tuyên thệ chiếu theo điều 1532; nhưng nếu nhân chứng từ chối tuyên thệ, thì cũng phải nghe người ấy cung khai, mặc dầu họ không tuyên thệ.

Điều 1563

Trước tiên, thẩm phán phải kiểm chứng lý lịch của nhân chứng, phải hỏi nhân chứng có liên hệ gì với các bên, và khi đặt ra cho nhân chứng những câu hỏi riêng biệt liên quan đến vụ án, thẩm phán cũng phải hỏi cho biết chính xác nơi chốn và thời gian mà nhân chứng biết được những điều họ quả quyết.

Điều 1564

Các câu hỏi phải ngắn gọn, hợp với tầm hiểu biết của người được thẩm vấn, không bao hàm một lúc nhiều vấn đề, không quanh co, không xảo quyệt, không gợi ra câu trả lời, hoặc không có tính cách khiêu khích bất cứ ai và phải liên quan đến vụ án đang được xét xử.

Điều 1565

§1. Những câu hỏi không được thông báo trước cho các nhân chứng.

§2. Tuy nhiên, nếu các sự kiện phải được làm chứng đã được quên đi đến nỗi nếu không được gợi lại trước thì sẽ không được quả quyết chắc chắn được, thẩm phán có thể nói trước cho nhân chứng một vài điểm, nếu nghĩ rằng điều đó không có gì nguy hại.

Điều 1566

Các nhân chứng phải cung khai bằng miệng và không được đọc điều đã viết sẵn, trừ khi phải nói đến những việc tính toán và sổ sách; trong trường hợp này, họ có thể tham khảo những điều ghi chú họ đã mang theo.

Điều 1567

§1. Câu trả lời phải được công chứng viên ghi ngay trên giấy tờ và phải ghi nguyên văn những lời nói của nhân chứng, ít nhất đối với những vấn đề trực tiếp liên quan đến đối tượng của vụ án.

§2. Có thể chấp nhận việc sử dụng máy ghi âm, miễm là sau đó các câu trả lời phải được ghi chép lại trên giấy tờ, và nếu có thể, phải được những người cung khai ký tên vào.

Điều 1568

Công chứng viên phải ghi vào các án từ lời thề đã được đọc, được miễn chuẩn hay bị từ chối, sự hiện diện của các bên và của những đệ tam nhân, các câu hỏi được thêm vào chiếu theo chức vụ, và nói chung, tất cả những gì đáng ghi nhớ đã xảy ra trong cuộc thẩm vấn các nhân chứng.

Điều 1569

§1. Thẩm vấn xong, phải đọc cho nhân chứng nghe những lời khai của họ đã được công chứng viên ghi lại trên giấy tờ hay đã được thu qua máy ghi âm, và phải cho nhân chứng được quyền thêm, bỏ, sửa chữa, thay đổi các lời đã cung khai.

§2. Tiếp đến, nhân chứng, thẩm phán và công chứng viên phải ký vào án từ.

Điều 1570

Trước khi công bố các án từ hay những lời chứng, các nhân chứng, mặc dầu đã được thẩm vấn rồi, vẫn có thể được mời ra để thẩm vấn lần nữa, do một bên yêu cầu hoặc chiếu theo chức vụ, nếu thẩm phán thấy điều đó là cần thiết hay hữu ích, miễn là không có nguy cơ thông đồng hay hối lộ nào.

Điều 1571

Tùy theo sự ước tính hợp tình hợp lý của thẩm phán, phải bồi thường cho các nhân chứng những phí tổn phải chịu cũng như những lợi tức đã mất vì phải ra tòa làm chứng.

TIẾT 4
GIÁ TRỊ CỦA CÁC LỜI CHỨNG

Điều 1572

Trong việc thẩm định các lời chứng, sau khi đã đòi phải có những chứng thư nếu cần, thẩm phán phải cứu xét:

10 tư cách và tiếng tăm của nhân chứng;

20 nhân chứng có cung khai điều họ biết hay không, nhất là điều do mắt thấy tai nghe, hoặc là theo ý kiến riêng của họ, hoặc do dư luận, hoặc do người khác nói lại;

30 nhân chứng có nhất quán, kiên trì và mạch lạc với mình hay không, hoặc là hay thay đổi, hoặc là không chắc chắn, hoặc là do dự;

40 điều mà nhân chứng quả quyết có được những nhân chứng khác hoặc những yếu tố chứng minh khác xác nhận hay không.

Điều 1573

Lời khai của một nhân chứng duy nhất không thể đáng tin hoàn toàn, trừ khi người đó là một nhân chứng có tư cách chuyên môn và cung khai những việc mà họ đã thực hiện trong khi thi hành nhiệm vụ, hoặc trừ khi hoàn cảnh sự việc và con người khuyến cáo cách khác.

CHƯƠNG 4
CÁC GIÁM ĐỊNH VIÊN

Điều 1574

Phải nhờ đến các giám định viên, mỗi khi luật quy định hoặc mỗi khi thẩm phán cần đến việc nghiên cứu và ý kiến của họ dựa trên những quy luật kỹ thuật hay khoa học, để chứng minh một sự kiện hay để biết thực chất của một sự vật.

Điều 1575

Thẩm phán phải bổ nhiệm các giám định viên, sau khi đã nghe các bên hay do các bên đề nghị, hoặc nếu có dịp, phải thu nạp những bản phúc trình cho các giám định viên khác soạn thảo.

Điều 1576

Các giám định viên cũng bị loại trừ hoặc có thể bị khước từ vì cùng những lý do như các nhân chứng.

Điều 1577

§1. Sau khi đã lưu ý đến những luận cứ do các bên đối tụng trình bày, thẩm phán phải ra sắc lệnh ấn định từng điểm mà các giám định viên phải nghiên cứu.

§2. Phải trao cho giám định viên những án từ của vụ án cũng như những tài liệu và những chi tiết khác mà họ có thể cần đến để chu toàn nhiệm vụ cách đứng đắn và trung thực.

§3. Sau khi đã bàn hỏi với giám định viên, thẩm phán phải ấn định thời hạn để hoàn tất việc giám định và đệ nạp bản phúc trình.

Điều 1578

§1. Mỗi giám định viên phải làm bản phúc trình riêng, trừ khi thẩm phán ra lệnh làm chung một bản, để từng người ký tên vào; trong trường hợp này, nếu có những ý kiến bất đồng, thì phải ghi chú cẩn thận.

§2. Nhưng giám định viên phải chỉ rõ là do những tài liệu nào hay do những cách thế thích hợp nào mà họ biết được lý lịch các nhân sự, các sự việc hay các nơi chốn; họ phải chỉ rõ là họ đã dùng đường lối nào và phương pháp nào để thi hành sứ mệnh đã được trao phó, và nhất là họ phải cho biết rõ là đã dựa trên những chứng cớ nào để kết luận.

§3. Giám định viên có thể được thẩm phán triệu tập để cung cấp thêm những lời giải thích mà về sau mới thấy là cần thiết.

Điều 1579

§1. Thẩm phán phải cân nhắc cẩn thận không những các kết luận của các giám định viên, ngay khi chúng ăn khớp với nhau, mà cả các hoàn cảnh khác của vụ án nữa.

§2. Khi đưa ra những lý do quyết định của mình, thẩm phán phải trình bày những lý do đã đưa đến việc chấp nhận hay bác bỏ những kết luận của các giám định viên.

Điều 1580

Phải hoàn trả cho các giám định viên những phí tổn và thù lao do thẩm phán ấn định cách hợp lý và công bình, miễn là vẫn giữ nguyên luật địa phương.

Điều 1581

§1. Các bên có thể chọn các giám định viên tư được thẩm phán chấp nhận.

§2. Nếu thẩm phán cho phép, các giám định viên tư này có thể tham khảo các án từ của vụ án, tùy theo mức độ cần thiết, và theo dõi diễn tiến của việc giám định, tuy nhiên, họ luôn luôn có thể nộp bản phúc trình riêng của họ.

CHƯƠNG 5
ĐI ĐẾN HIỆN TRƯỜNG
VÀ KIỂM ĐỊNH TƯ PHÁP

Điều 1582

Để thẩm vấn một vụ án, nếu thẩm phán nhận thấy cần phải đi đến một nơi hay cần phải xem xét một vật, thì phải quyết định điều đó bằng một sắc lệnh, trong đó phải vắn tắt kê khai những điều phải làm trong lúc đi đến hiện trường, sau khi đã bàn hỏi với các bên.

Điều 1583

Phải lập biên bản về việc kiểm định đã được thực hiện.

CHƯƠNG 6
NHỮNG SUY ĐOÁN

Điều 1584

Sự suy đoán là sự phỏng định hữu lý về một việc không chắc chắn; sự suy đoán pháp định là sự suy đoán do chính luật ấn định; sự suy đoán nhân định là sự suy đoán do thẩm phán phỏng định.

Điều 1585

Người nào có sự suy đoán pháp định thuận lợi cho mình thì người ấy khỏi phải viện dẫn chứng cớ, nghĩa vụ viện dẫn chứng cớ này thuộc về đối phương.

Điều 1586

Thẩm phán không được phỏng định những sự suy đoán mà luật pháp không ấn định, nếu không căn cứ vào một sự kiện chắc chắn và nhất định có liên hệ trực tiếp đến điều đang tranh chấp.

ĐỀ MỤC 5
NHỮNG VỤ ÁN PHỤ

Điều 1587

Có vụ án phụ mỗi khi một vấn đề được đặt ra, tuy không được minh nhiên ghi trong đơn khởi tố, sau khi đã có lệnh triệu tập khai mạc vụ án, nhưng vấn đề đó thuộc về vụ án đến nỗi thường thường phải được giải quyết trước vấn đề chính.

Điều 1588

Vụ án phụ được trình lên thẩm phán có thẩm quyền xét xử vụ án chính, bằng giấy tờ hay bằng miệng, và phải nêu rõ mối tương quan giữa vụ án này và vụ án chính.

Điều 1589

§1. Sau khi đã nhận được lời thỉnh cầu và nghe các bên, thẩm phán phải nhận nhanh chóng quyết định xem xét vấn đề phụ trình lên có nền tảng và có liên hệ đến vụ án chính hay không, hay trái lại, có phải bác bỏ vấn đề phụ ngay từ đầu hay không, hay trái lại, có phải bác bỏ vấn đề phụ ngay từ đầu hay không; và nếu chấp nhận vấn đề phụ đó, thẩm phán phải quyết định xem xét vấn đề ấy có nghiêm trọng đến nỗi phải được giải quyết bằng án trung phán trung phán hay bằng một sắc lệnh không.

§2. Nếu xét thấy không cần phải giải quyết vấn đề phụ trước án chung quyết, thẩm phán phải quyết định là sẽ quan tâm đến vấn đề này khi xét xử vụ án chính.

Điều 1590

§1. Nếu một vấn đề phụ phải được giải quyết bằng bản án, thì phải tuân giữ các quy tắc về vụ án hộ sự khẩu biện, trừ khi sự nghiêm trọng của vấn đề buộc thẩm phán phải dự liệu cách khác.

§2. Nếu một vấn đề phụ phải được giải quyết bằng sắc lệnh, tòa án có thể ủy thác vấn đề đó cho dự thẩm hay chánh án.

Điều 1591

Bao lâu vụ án chính chưa kết thúc, thẩm phán hay tòa án, vì một lý do chính đáng, có thể thu hồi hoặc sửa đổi sắc lệnh hay án trung phán do yêu cầu của một bên, hoặc chiếu theo chức vụ, sau khi đã nghe các bên.

CHƯƠNG 1
CÁC BÊN KHÔNG RA HẦU TÒA

Điều 1592

§1. Nếu bị cáo được triệu tập mà không ra hầu tòa và cũng không cáo lỗi cách hợp pháp về sự vắng mặt của mình, hoặc không trả lời chiếu theo quy tắc của điều 1507 §1, thẩm phán phải công bố bị cáo vắng mặt và phải quyết định tiến hành vụ án cho đến khi có bản án chung kết và thi hành bản án ấy, miễn là vẫn giữ những gì luật định.

§2. Trước khi ra sắc lệnh được ấn định ở §1, thẩm phán phải biết chắc rằng lệnh triệu tập đã được thi hành hợp lệ và đã tới tay bị cáo trong thời gian hữu dụng, kể cả khi phải ra lệnh triệu tập một lần nữa, nếu cần.

Điều 1593

§1. Nếu sau đó bị cáo ra hầu tòa hoặc trả lời trước khi xử vụ án, bị cáo có thể đưa ra những kết luận và những chứng cớ, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1600; tuy nhiên, thẩm phán phải liệu sao đừng để vụ án kéo dài quá lâu và vô ích do những thủ đoạn nào đó.

§2. Ngay cả khi không ra hầu tòa hoặc không trả lời trước khi xét xử vụ án, bị cáo vẫn có thể chống lại bản án; nếu bị cáo chứng minh được rằng mình đã bị ngăn trở cách hợp pháp và đã không thể trình diện sớm hơn dù không do lỗi của mình, bị cáo có thể khiếu tố để tiêu hủy bản án.

Điều 1594

Nếu nguyên cáo không ra hầu tòa vào ngày và giờ ấn định để đối tụng, cũng không đưa ra lý do để cáo lỗi:

10 thẩm phán phải triệu tập nguyên cáo một lần nữa;

20 nếu nguyên cáo không ra hầu tòa theo lệnh triệu tập mới này, thì nguyên cáo được suy đoán là đã bãi nại, chiếu theo quy tắc của các điều 1524-1525;

30 nếu sau đó nguyên cáo muốn can thiệp vào vụ án, thì phải giữ điều 1593.

Điều 1595

§1. Nếu nguyên cáo hay bị cáo nào vắng mặt mà không chứng minh được là mình bị ngăn trở chính đáng, thì buộc phải trả các án phí do sự vắng mặt của mình gây ra, và cũng phải bồi thường thiệt hại cho bên kia, nếu cần.

§2. Nếu cả nguyên cáo lẫn bị cáo đều không ra hầu tòa, họ buộc phải liên đới để trả án phí.

CHƯƠNG 2
SỰ CAN THIỆP CỦA ĐỆ TAM NHÂN VÀO VỤ ÁN

Điều 1596

§1. Người nào quan tâm đến vụ án, thì được phép can thiệp vào vụ án đó trong bất cứ giai đoạn nào, hoặc với tư cách là đương sự bênh vực quyền lợi của riêng mình hoặc với tư cách là phụ trợ để giúp đỡ một đương sự đang tranh tụng.

§2. Tuy nhiên để được chấp nhận, người ấy phải đệ đơn lên thẩm phán trước khi kết thúc vụ xét hỏi, để trình bày vắn tắt quyền can thiệp của mình.

§3. Phải chấp nhận người can thiệp vào vụ án trong hiện trạng của vụ án và phải cho người ấy một thời hạn ngắn và cưỡng định để họ viện dẫn những chứng cớ của họ, nếu vụ án đã đến giai đoạn dẫn chứng.

Điều 1597

Sau khi đã nghe các bên, thẩm phán phải triệu tập một đệ tam nhân ra tòa, nếu sự can thiệp của họ là cần thiết.

ĐỀ MỤC 6
CÔNG BỐ ÁN TỪ
KẾT THÚC VIỆC THẨM CỨU
VÀ TRANH LUẬN VỀ VỤ ÁN

Điều 1598

§1. Sau khi đã thu thập được các chứng cớ, thẩm phán phải ra sắc lệnh cho phép các bên và các luật sư của họ được quyền tìm hiểu các án từ mà họ chưa biết, tại văn phòng tòa án, nếu không thì việc xét xử sẽ vô hiệu; hơn nữa, nếu các luật sư yêu cầu, thẩm phán cũng có thể trao cho họ một bản sao các án từ; tuy nhiên, trong những vụ án liên quan đến công ích, để tránh các nguy hiểm rất nghiêm trọng, thẩm phán có thể quyết định không tiết lộ cho ai một án từ nào cả, nhưng phải liệu sao để quyền bào chữa luôn được giữ nguyên vẹn.

§2. Để bổ sung những chứng cớ, các bên có thể trình cho thẩm phán những chứng cớ khác; sau khi đã thu thập được những chứng cớ đó rồi, nếu xét thấy cần, thẩm phán phải ra một sắc lệnh mới được ấn định ở §1.

Điều 1599

§1. Sau khi đã hoàn tất mọi điều liên quan đến việc viện dẫn chứng cớ, thì đến giai đoạn kết thúc thẩm cứu.

§2. Giai đoạn kết thúc này xảy ra khi các bên tuyên bố không còn điều gì phải thêm vào hoặc khi đã hết thời gian hữu dụng do thẩm phán ấn định để đề xuất các chứng cớ, hoặc khi thẩm phán tuyên bố vụ án đã được thẩm cứu đủ rồi.

§3. Dù giai đoạn kết thúc xảy ra dưới hình thức nào đi chăng nữa, thẩm phán phải ra môt sắc lệnh tuyên bố kết thúc việc thẩm cứu.

Điều 1600

§1. Sau khi kết thúc việc thẩm cứu, thẩm phán còn có thể mời cùng những nhân chứng hay những nhân chứng khác hoặc có thể đòi thêm các chứng cớ khác mà trước đây chưa yêu cầu, nhưng chỉ giới hạn:

10 trong những vụ án liên quan đến tư ích của các bên mà thôi, nếu tất cả mọi bên đều đồng ý;

20 trong những vụ án khác, sau khi đã nghe các bên, và miễn là có một lý do nghiêm trọng, cũng như tránh được mọi nguy cơ gian lận hối lộ;

30 trong tất cả mọi vụ án, mỗi khi nhận thấy rằng bản án sẽ bất công vì những lý do được nêu ra ở điều 1645 §2, 10- 30, nếu không nhận thêm chứng cớ mới này.

§2. Tuy nhiên, thẩm phán có thể ra lệnh hay cho phép trình bày một văn bản đã không thể được trình bày trước đó, mà không do lỗi của người liên hệ.

§3. Các chứng cớ mới phải được công bố theo những quy định của điều 1598 §1.

Điều 1601

Sau khi kết thúc việc thẩm cứu, thẩm phán phải ấn định một thời gian thích hợp để các bên trình bày các lời bào chữa hay những nhận xét.

Điều 1602

§1. Những lời bào chữa và những nhận xét phải được viết trên giấy tờ, trừ khi với sự đồng ý của các bên, thẩm phán xét rằng chỉ cần một cuộc tranh luận tại tòa là đủ rồi.

§2. Nếu muốn in những lời bào chữa và những tài liệu chính thì buộc phải có phép trước của thẩm phán, miễn là vẫn bảo vệ nghĩa vụ giữ bí mật, nếu có.

§3. Phải tuân theo quy luật của tòa án về mức độ dài ngắn của những lời bào chữa, số lượng bản in và những chi tiết khác như vậy.

Điều 1603

§1. Sau khi đã trao đổi với nhau những lời bào chữa và những nhận xét, mỗi bên được quyền trả lời trong thời gian ngắn do thẩm phán ấn định.

§2. Quyền này chỉ được ban cho các bên một lần mà thôi, trừ khi vì một lý do nghiêm trọng, thẩm phán xét thấy phải ban cho một lần thứ hai nữa; nhưng trong trường hợp này, quyền được ban cho bên này cũng coi như được ban cho bên kia nữa.

§3. Công tố viên và bảo hệ viên có quyền đối đáp những câu trả lời của các bên một lần nữa.

Điều 1604

§1. Tuyệt đối cấm các bên, các luật sư hay cả những đệ tam nhân cung cấp cho thẩm phán những thông tin nằm ngoài các án từ của vụ kiện.

§2. Nếu việc tranh tụng đã được thực hiện trên giấy tờ, thẩm phán có thể ấn định cuộc tranh luận khẩu biện tại tòa, để làm sáng tỏ một vài vấn đề.

Điều 1605

Một công chứng viên phải tham dự cuộc tranh luận khẩu biện, được nói đến ở những điều 1602 §1 và 1604 §2, để có thể ghi ngay vào biên bản những điều đã được bàn cãi và những kết luận, nếu thẩm phán truyền lệnh, hoặc nếu một bên yêu cầu và nếu thẩm phán đồng ý.

Điều 1606

Nếu các bên chểnh mảng không lo chuẩn bị bào chữa cho mình trong thời gian hữu dụng, hoặc phó thác việc bào chữa cho sự hiểu biết và lương tâm của thẩm phán, và nếu thẩm phán nhận thấy là vấn đề đã hoàn toàn sáng tỏ qua các án từ và các chứng cớ, thì thẩm phán có thể tuyên án ngay, sau khi đã buộc công tố viên và bảo hệ viên phải đưa ra những nhận xét, nếu họ tham gia vào vụ kiện.

ĐỀ MỤC 7
TUYÊN ÁN

Điều 1607

Một vụ án được xét xử theo hình thức tư pháp phải được thẩm phán giải quyết bằng một bản án chung quyết, nếu đó là một vụ án chính, hoặc bằng một bản án trung phán, nếu đó là một vụ án phụ, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1589 §1.

Điều 1608

§1. Để tuyên bố một bản án, thẩm phán buộc có sự xác tín luân lý về vấn đề phải giải quyết bằng bản án.

§2. Thẩm phán phải tìm thấy sự xác tín luân lý này từ các án từ và các chứng cớ.

§3. Tuy nhiên, thẩm phán phải thẩm định các chứng cớ theo lương tâm của mình, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của luật pháp liên quan đến giá trị của một số chứng cớ.

§4. Thẩm phán nào không thể có sự xác tín luân lý này thì phải tuyên bố rằng quyền của nguyên cáo đã không được thiết lập và phải giải trừ bị cáo, trừ khi đó là một vụ án được luật ưu đãi, trong trường hợp này thẩm phán phải tuyên bố thuận lợi cho vụ án ấy.

Điều 1609

§1. Chánh án tòa án hiệp đoàn ấn định ngày và giờ để các thẩm phán hội lại bàn luận và cuộc họp phải diễn ra trong chính trụ sở của tòa án, trừ khi có lý do đặc biệt khuyến cáo cách khác.

§2. Vào ngày đã được ấn định, mỗi thẩm phán phải mang theo những bản kết luận của mình về nội dung vụ kiện, với những lý do về pháp lý cũng như về việc sự kiện đưa đến những kết luận đó; những bản kết luận này phải được đính kèm vào những án từ của vụ án, và phải được giữ bí mật.

§3. Sau khi đã kêu cầu Danh Chúa, mỗi thẩm phán phải lần lượt trình bày những bản kết luận của mình theo thứ tự uu tiên, tuy luôn luôn phải bắt đầu từ báo cáo viên hay phúc trình viên, tiếp đến, sẽ có một cuộc tranh luận dưới sự hướng dẫn của vị chánh án, nhất là để xác minh những điều phải được ấn định trong phần chủ văn của bản án.

§4. Tuy nhiên, trong cuộc tranh luận này, mỗi người có quyền rút lại kết luận đầu tiên của mình, nhưng thẩm phán nào không muốn theo ý kiến của những người khác, thì có thể yêu cầu chuyển những kết luận mình lên tòa án cấp cao hơn, trong trường hợp kháng cáo.

§5. Nếu trong buổi tranh luận đầu tiên, các thẩm phán không muốn hay không thể tuyên án, thì việc quyết định có thể được dời lại một buổi họp khác, nhưng không quá một tuần, nếu không phải bổ túc việc thẩm vấn vụ án chiếu theo quy tắc của điều 1600.

Điều 1610

§1. Nếu là thẩm phán duy nhất, thẩm phán phải tự soạn thảo bản án.

§2. Trong một tòa án hiệp đoàn, báo cáo viên hay phúc trình viên có bổn phận soạn thảo bản án, dựa vào những lý do được mỗi thẩm phán đưa ra trong cuộc tranh luận, trừ khi đa số thẩm phán đã ấn định trước những lý do phải được viện dẫn; sau đó, bản án phải được chấp thuận của mỗi thẩm phán.

§3. Bản án phải được ban hành trong một thời hạn không quá một tháng tính từ ngày vụ án đã được xét xử, trừ khi trong một tòa án hiệp đoàn các thẩm phán đã ấn định một thời hạn dài hơn vì một lý do nghiêm trọng.

Điều 1611

Bản án phải:

10 phán xử cuộc tranh luận đã được bàn cải trước tòa bằng cách đưa ra một lời phúc đáp thích đáng cho từng nghi vấn;

20 xác định những nghĩa vụ của các bên phát xuất từ việc xử án và cách thức họ phải chu toàn các nghĩa vụ ấy;

30 trình bày những lý lẽ hay những lý do về pháp lý cũng như về sự kiện mà chủ văn bản án dựa vào;

40 ấn định những án phí.

Điều 1612

§1. Sau khi kêu cầu Danh Chúa, bản án phải lần lượt ghi rõ ai là thẩm phán hoặc tòa án là tòa nào; phải ghi rõ ràng danh tính và nơi cư trú của nguyên cáo, của bị cáo, của người đại dịên, và ai là công tố viên, ai là bảo hệ viên, nếu họ tham gia vào vụ án.

§2. Sau đó phải trình bày vắn tắt sự kiện cùng với những kết luận của các bên và công thức của những nghi vấn.

§3. Tiếp đến là phần chủ văn của bản án, sau khi đã đưa ra những lý lẽ mà chủ văn bản án dựa vào.

§4. Sau cùng, phải ghi rõ ngày và nơi đã ban hành bản án, và phải có chữ ký của thẩm phán hoặc của tất cả các thẩm phán, nếu là tòa án hiệp đoàn, và của công chứng viên.

Điều 1613

Những quy luật trên đây liên quan đến bản án chung quyết cũng phải áp dụng cho bản án trung phán.

Điều 1614

Bản án phải được công bố sớm hết sức, và phải chỉ rõ những cách thức có thể dùng để kháng án; trước khi được công bố, bản án không có hiệu lực nào cả, ngay cả khi phần chủ văn của bản án đã được thẩm phán cho phép thông tri cho các bên.

Điều 1615

Việc công bố hay thông báo bản án có thể được thực hiện bằng cách trao một bản sao cho các bên, hoặc cho những người đại diện của họ, hoặc bằng cách gửi cho họ bản sao ấy chiếu theo quy tắc của điều 1509.

Điều 1616

§1. Nếu trong văn bản của bản án có sự lầm lẫn về số liệu hay lầm lẫn về chất liệu trong khi sao lại phần chủ văn, hoặc phần trình bày các sự kiện, hoặc những lời yêu cầu của các bên, hoặc nếu đã bỏ sót những yếu tố mà điều 1612 §4 buộc phải có, thì chính tòa án đã ban hành bản án đó phải sửa chữa hay bổ sung, theo lời yêu cầu của một bên, hoặc chiếu theo chức vụ, nhưng luôn luôn phải hỏi ý kiến các bên và phải đính kèm một sắc lệnh vào cuối bản án.

§2. Nếu có một bên phản đối, vấn đề phụ phải được giải quyết bằng sắc lệnh.

Điều 1617

Ngoài bản án ra, những lời tuyên bố khác của thẩm phán là những sắc lệnh, mà nếu chúng không có tính cách thuần túy hành chính, thì chúng không có hiệu lực, trừ khi chúng trình bày các lý do ít là cách sơ lược, hoặc trừ khi chúng quy chiếu về các lý do đã được trình bày trong một án từ khác.

Điều 1618

Một bản án trung phán hay một sắc lệnh có hiệu lực như bản án chung quyết, nếu nó ngăn cản việc xét xử hay kết thúc chính việc xét xử hoặc một cấp bậc nào đó của việc xét xử, ít là đối với một bên trong vụ án.

ĐỀ MỤC 8
KHÁNG ÁN

CHƯƠNG 1
TỐ QUYỀN TIÊU HỦY BẢN ÁN

Điều 1619

Miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của các điều 1622 và 1623, tính vô hiệu nào của các án từ do luật thiết định ấn định, mặc dù bên kháng cáo biết mà không trình cho thẩm phán trước khi tuyên án, thì được chính bản án sửa chữa, mỗi khi vụ án liên quan đến lợi ích tư nhân.

Điều 1620

Không thể sửa chữa được một bản án bị vô hiệu nếu:

10 bản án được ban hành do một thẩm phán tuyệt đối vô thẩm quyền;

20 bản án được ban hành do một người không có quyền xét xử trong tòa án đã giải quyết vụ án;

30 thẩm phán đã ban hành bản án do tác dụng của bạo lực hay do sợ hãy nghiêm trọng;

40 việc xử án đã được tiến hành mà không có đơn thỉnh nguyện tư pháp, như đã nói ở điều 1501, hoặc không chống lại một bị cáo nào hết;

50 bản án được ban hành giữa các bên mà ít là một bên không có tư cách ra hầu tòa;

60 người nào đó đã hành động nhân danh một người khác mà không được ủy quyền hợp pháp;

70 quyền biện hộ của bên này hoặc của bên kia đã bị từ chối;

80 sự tranh tụng đã không được phân xử, dù chỉ là một phần.

Điều 1621

Tố quyền tiêu hủy nói ở điều 1620 có thể được nêu lên theo cách khước biện, không giới hạn thời gian; còn theo cách khởi tố trước mặt thẩm phán đã tuyên án, thì trong vòng mười năm kể từ ngày công bố bản án.

Điều 1622

Có thể sửa chữa được một bản án bị vô hiệu nếu:

10 bản án được ban hành do một số không hợp lệ của các thẩm phán, trái với những quy định của điều 1425 §1;

20 bản án không diện dẫn các lý lẽ hay lý do quyết định;

30 bản án thiếu những chữ ký mà luật đòi phải có;

40 bản án không ghi rõ ngày, tháng, năm và nơi ban hành;

50 bản án dựa trên một án từ tư pháp vô hiệu, và sự vô hiệu đó không được sửa chữa chiếu theo quy tắc của điều 1619;

60 bản án được ban hành chống lại một đương sự vắng mặt cách hợp pháp, chiếu theo điều 1593 §2.

Điều 1623

Tố quyền tiêu hủy trong những trường hợp nói ở điều 1622 có thể được nêu lên trong vòng ba tháng kể từ lúc biết bản án đã được công bố.

Điều 1624

Chính thẩm phán đã ban hành bản án phải giải quyết tố quyền tiêu hủy; nếu đương sự sợ rằng vị thẩm phán đã ban hành bản án bị tố quyền tiêu hủy chống đối sẽ có thiên kiến và vì vậy cho rằng vị này đáng nghi ngờ, thì có thể yêu cầu một vị thẩm phán khác hay thế chiếu theo quy tắc của điều 1450.

Điều 1625

Tố quyền tiêu hủy có thể được đệ nộp cùng lúc với kháng cáo, trong thời hạn đã được ấn định cho việc kháng cáo.

Điều 1626

§1. tố quyền tiêu hủy được nêu lên không những do các bên cảm thấy mình bị thiệt hại, mà còn do cả công tố viên hoặc bảo hệ viên nữa, mỗi khi họ có quyền can thiệp.

§2. Chính thẩm phán, chiếu theo chức vụ, có thể thu hồi hay sửa chữa một bản án vô hiệu mình đã ban hành, trong những thời hạn được ấn định ở điều 1623, trừ khi trong thời hạn ấy kháng cáo đã được đệ nộp chung với tố quyền tiêu hủy, hoặc sự vô hiệu đã được sửa chữa do mãn thời hạn được nêu ra ở điều 1623.

Điều 1627

Các vụ án về tố quyền tiêu hủy có thể được xét xử theo những quy tắc của vụ án hộ sự khẩu biện.

CHƯƠNG 2
KHÁNG CÁO

Điều 1628

Bên nào cảm thấy mình bị thiệt hại do một bản án, cũng như công tố viên và bảo hệ viên trong những vụ án họ phải có mặt, đều có quyền kháng cáo lên thẩm phán thượng cấp để chống lại bản án, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1629.

Điều 1629

Không được kháng cáo chống lại;

10 bản án do chính Đức Giáo Hoàng hay do Tối Cao Pháp Viện tông tòa ban hành;

20 bản án bị vô hiệu, trừ khi việc kháng cáo được nêu lên chung với tố quyền tiêu hủy chiếu theo quy tắc của điều 1625;

30 bản án trở thành vấn đề quyết tụng;

40 sắc lệnh của thẩm phán hay bản án trung phán không có hiệu lực của bản án chung quyết, trừ khi đơn kháng cáo này được nộp chung với đơn kháng cáo chống lại bản án chung quyết;

50 bản án hay sắc lệnh trong một vụ án mà luật đã ấn định phải được xét xử trong thời hạn nhanh hết sức có thể.

Điều 1630

§1. Đơn kháng cáo phải được nộp cho thẩm phán đã ban hành bản án trong thời hạn cưỡng định là mười lăm ngày hữu dụng, kể từ lúc biết bản án được công bố.

§2. Nếu việc kháng cáo được trình miệng, công chứng viên phải ghi lại việc kháng cáo ấy trên giấy tờ trước mặt chính người kháng cáo.

Điều 1631

Nếu xảy ra một vấn đề về quyền kháng cáo, tòa kháng cáo phải khẩn cấp cứu xét vấn đề đó theo những quy tắc của vụ án hộ sự khẩu biện.

Điều 1632

§1. Nếu đơn kháng cáo không nêu rõ tòa án nào là nơi nhận đơn, thì được suy đoán là kháng cáo ở tòa án được nói đến ở các điều 1438 và 1439.

§2. Nếu bên kia kháng cáo ở một tòa kháng cáo khác, thì tòa án nào cao cấp hơn sẽ xét xử vụ án, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1415.

Điều 1633

Việc kháng cáo phải được tiến hành trước mặt thẩm phán tòa kháng cáo trong thời hạn một tháng, kể từ khi nộp đơn kháng cáo, trừ khi thẩm phán ban hành bản án đã ấn định một thời gian dài hơn cho đơn sự để tiến hành việc kháng cáo.

Điều 1634

§1. Để tiến hành việc kháng cáo, điều kiện cần và đủ là đương sự phải nại tới thẩm phán thượng cấp để xin duyệt lại bản án đã bị chống đối, kèm theo một bản sao của bản án này và nêu rõ những lý do kháng cáo.

§2. Nếu đương sự không thể nhận được bản sao của bản án bị chống đối từ tòa án ban hành bản án trong thời gian hữu dụng, thì khoảng thời gian đó không được tính trong hạn kỳ, và phải báo cho thẩm phán tòa kháng cáo biết ngăn trở ấy, vị này sẽ ra lệnh buộc thẩm phán đã ban hành bản án phải chu toàn nhiệm vụ của mình cách nhanh nhất.

§3. Trong khi đó, thẩm phán ban hành bản án phải chuyển lên thẩm phán tòa kháng cáo những án từ chiếu theo quy tắc của điều 1474.

Điều 1635

Khi đã mãn hạn hạn kỳ hữu dụng để kháng cáo, hoặc trước thẩm phán ban hành bản án, hoặc trước thẩm phán tòa kháng cáo, thì việc kháng cáo được coi như đã bị hủy bỏ.

Điều 1636

§1. Người kháng cáo có thể từ bỏ việc kháng cáo, với những hiệu lực được nói đến ở điều 1525.

§2. Nếu bảo hệ viên hay công tố viên đề xuất việc kháng cáo, thì bảo hệ viên hay công tố viên của tòa kháng cáo có thể hủy bỏ việc kháng cáo ấy, trừ khi luật đã dự liệu cách khác.

Điều 1637

§1. Việc kháng cáo do nguyên cáo thực hiện cũng giúp ích cho bị cáo, và ngược lại.

§2. Nếu có nhiều bị cáo hay nhiều nguyên cáo, và nếu bản án chỉ bị một người trong họ chống lại hoặc chống lại một người trong họ, thì việc kháng án được coi là do tất cả mọi người thực hiện và chống lại tất cả mọi người, mỗi khi vấn đề được thỉnh cầu có tính cách bất khả phân chia hoặc mỗi khi nghĩa vụ có tính cách liên đới.

§3. Nếu một bên kháng cáo về một điểm của bản án, thì cho dù thời hạn kỳ kháng cáo đã mãn, đối phương vẫn có thể kháng cáo phụ về những điểm khác; trong thời hạn cưỡng định là mười lăm ngày, tính từ ngày nhận được thông báo của việc kháng cáo chính.

§4. Trừ khi đã rõ cách khác, việc kháng cáo được suy đoán là chống lại tất cả mọi điểm của bản án.

Điều 1638

Việc kháng cáo đình hoãn việc thi hành bản án.

Điều 1639

§1. Miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1638, không thể chấp nhận một lý do thỉnh cầu mới ở cấp kháng cáo, ngay cả bằng cách dồn chung cho tiện, vì thế, việc đối tụng chỉ nhằm để biết phải chứng thực bản án đầu tiên hay phải sửa đổi, hoặc là tất cả, hoặc là một phần bản án ấy.

§2. Tuy nhiên, những chứng cớ mới chỉ được chấp nhận chiếu theo quy tắc của điều 1600.

Điều 1640

Cách thức kiện tụng ở tòa kháng cáo cũng giống như ở tòa cấp một, với những thích nghi xứng hợp; tuy nhiên, nếu không phải bổ sung thêm các chứng cớ, thì bước sang việc tranh luận vụ án và tuyên án, ngay sau khi đã đối tụng chiếu theo quy tắc của điều 1513 §1 và điều 1639 §1.

ĐỀ MỤC 9
VẤN ĐỀ QUYẾT TỤNG
VÀ VIỆC PHỤC HỒI NGUYÊN TRẠNG

CHƯƠNG 1
VẤN ĐỀ QUYẾT TỤNG

Điều 1641

Miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1643, một vấn đề trở thành quyết tụng:

10 nếu giữa cùng các bên như nhau đã có hai bản án giống hệt nhau, về cùng một điều thỉnh nguyện và bởi cùng một lý do;

20 nếu đơn kháng cáo chống lại bản án không được đệ nộp trong thời gian hữu dụng;

30 nếu đơn kiện đã thất hiệu ở cấp kháng cáo hay đã được bãi nại;

40 nếu đã ban hành một bản án chung quyết không được phép kháng cáo chiếu theo quy tắc của điều 1629.

Điều 1642

§1. Vấn đề quyết tụng được hưởng uy lực của pháp luật và không thể bị chống lại cách trực tiếp, trừ khi chiếu theo quy tắc của điều 1645 §1.

§2. Vấn đề quyết tụng có hiệu lực pháp lý giữa các bên và phát sinh tố quyền của việc đã xử cũng như khước biện của vấn đề quyết tụng, mà thẩm phán có thể tuyên bố chiếu theo chức vụ để ngăn ngừa một cuộc khởi tố mới của cùng một vụ án.

Điều 1643

Các vụ án liên quan đến tình trạng nhân thân, kể cả những vụ án ly thân của vợ chồng, không bao giờ trở thành vấn đề quyết tụng.

Điều 1644

§1. Nếu có hai bản án giống nhau đã được ban hành trong một vụ án liên quan đến tình trạng nhân thân thì có thể được kháng lên tòa án kháng cáo trong bất cứ thời gian nào, bằng cách trưng ra những chứng cớ hay hay những lý do mới và quan trọng, trong thời hạn cưỡng định là ba mươi ngày, kể từ ngày nộp đơn kháng án. Tuy nhiên, trong vòng một tháng kể từ khi trưng ra những chứng cớ và những lý do mới, tòa kháng cáo phải ra sắc lệnh quyết định chấp nhận hay bác bỏ việc thẩm cứu lại vụ án.

§2. Việc thượng tố lên tòa án cấp cao hơn để xin xử lại vụ án không đình hoãn việc thi hành bản án, khi trừ luật đã dự liệu cách khác hoặc khi tòa kháng cáo ra lệnh đình hoãn chiếu theo quy tắc của điều 1650 §3.

CHƯƠNG 2
VIỆC PHỤC HỒI NGUYÊN TRẠNG

Điều 1645

§1. việc phục hồi nguyên trạng được chấp nhận chống lại một bản án đã trở thành vấn đề quyết tụng, miễn là nhận thấy bản án ấy bất công tỏ tường.

§2. Chỉ được coi là bất công tỏ tường:

10 nếu bản án dựa trên những chứng cớ mà về sau mới biết là sai, đến nỗi nếu không có những chứng cớ ấy thì phần chủ văn của bản án không đứng vững được;

20 nếu sau đó mới khám phá ra những tài liệu chứng minh chắc chắn rằng có những sự kiện mới đòi hỏi một quyết định ngược lại;

30 nếu bản án ban hành do sự man trá của một bên đã gây thiệt hại cho bên kia;

40 nếu rõ ràng đã bỏ qua một quy định của luật không có tính thuần túy thủ tục.

50 nếu bản án đi ngược lại một quyết định trước đó đã trở thành vấn đề quyết tụng.

Điều 1646

§1. Việc phục hồi nguyên trạng vì những lý do nói ở điều 1645 §2, 10-30, phải được thỉnh cầu nơi thẩm phán đã ban hành bản án, trong vòng ba tháng, kể từ ngày biết được những lý do đó.

§2. Việc phục hồi nguyên trạng vì những lý do nói ở điều 1645 §2, 40-50, phải được thỉnh cầu nơi tòa án kháng cáo trong vòng ba tháng, kể từ ngày biết bản án đã được công bố; còn trong trường hợp được nói đến ở điều 1645 §2, 50, nếu quyết định trước được biết trễ, thì thời hạn bắt đầu từ lúc biết được quyết định ấy.

§3. Bao lâu đương sự bị thiệt hại còn là vị thành niên, thì bấy lâu sẽ không được tính các thời hạn nói trên.

Điều 1647

§1. Đơn thỉnh cầu việc phục hồi nguyên trạng đình hoãn việc thi hành bản án, nếu việc thi hành này chưa bắt đầu.

§2. Tuy nhiên, trong trường hợp có những dấu hiệu hữu lý cho phép nghi ngờ rằng đơn thỉnh cầu được nộp nhằm mục đích trì hoãn việc thi hành bản án, thì thẩm phán có thể quyết định phải thi hành bản án, nhưng phải ấn định một bảo chứng thích hợp cho người thỉnh nguyện việc phục hồi nguyên trạng là họ sẽ được bồi thường, nếu việc này được chấp nhận.

Điều 1648

Một khi đã chấp nhận việc phục hồi nguyên trạng, thẩm phán phải công bố lẽ phải trái của vụ án.

ĐỀ MỤC 10
ÁN PHÍ VÀ BẢO TRỢ ÁN PHÍ

Điều 1649

§1. việc điều hành tòa án thuộc về Giám Mục, ngài phải ấn định các quy tắc liên quan đến:

10 việc buộc các bên phải thanh toán hoặc bồi hoàn các án phí;

20 thù lao cho các người đại diện, các luật sư, các giám định viên và các thông dịch viên, cũng như việc bồi thường phí tổn cho các nhân chứng;

30 việc cấp bảo trợ miễn phí hay giảm án phí;

40 việc buộc người không những thất kiện mà còn kiện tụng bừa bãi phải đền bù những thiệt hại.

50 tiền ký quỹ hay tiền bảo chứng phải nộp để trả các án phí và đền bù thiệt hại.

§2. Không được kháng cáo riêng biệt chống lại quyết định về án phí, về thù lao và về đền bù thiệt hại; tuy nhiên, trong vòng mười lăm ngày, một bên có thể nại đến chính vị thẩm phán, vị này có thể thay đổi giá biểu phải trả.

ĐỀ MỤC 11
THI HÀNH BẢN ÁN

Điều 1650

§1. Một bản án đã trở thành vấn đề quyết tụng có thể được thi hành, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1647.

§2. Thẩm phán đã ban hành bản án và, nếu có kháng án, cả thẩm phán tòa kháng cáo có thể chiếu theo chức vụ hoặc do lời thỉnh cầu của một bên, ra lệnh thi hành tạm thời một bản án chưa trở thành vấn đề quyết tụng, miễn là thiết lập những bảo chứng thích hợp, nếu xét thấy cần thiết, trong trường hợp vấn đề có liên quan đến tiền bảo chứng hay tiền cấp dưỡng bảo đảm cho việc sinh sống cần thiết, hoặc vì một lý do chính đáng nào khác.

§3. Nếu bản án nói ở §2 bị chống đối, thẩm phán nào có nhiệm vụ cứu xét việc chống đối ấy, khi thấy việc kháng án có cơ sở hữu lý và việc thi hành bản án có nguy cơ gây ra một sự thiệt hại không thể sửa chữa được, thì có thể đình hoãn chính việc thi hành hoặc cho thi hành bản án với điều kiện phải nộp một khoản tiền bảo chứng.

Điều 1651

Không thể thi hành bản án trước khi thẩm phán ra một sắc lệnh có hiệu lực truyền phải thi hành bản án; tùy theo bản chất khác nhau của các vụ án, sắc lệnh này được bao gồm tong chính bản án hoặc được ban hành riêng.

Điều 1652

Nếu việc thi hành bản án buộc phải xuất trình sổ sách trước, thì một vấn đề phụ được đặt ra, và phải được giải quyết do chính thẩm phán đã ban hành bản án với lệnh phải thi hành.

Điều 1653

§1. Trừ khi luật địa phương ấn định cách khác, Giám Mục giáo phận tại nơi đã ban hành bản án cấp một phải đích thân ra lệnh thi hành bản án hoặc phải nhờ một người khác.

§2. Nếu Giám Mục giáo phận từ chối hay lơ là, do sự yêu cầu của bên có liên quan hoặc chiếu theo chức vụ, thì việc ra lệnh thi hành bản án thuộc về nhà chức trách mà tòa kháng cáo lệ thuộc, chiếu theo quy tắc của điều 1439 §3.

§3. Đối với các tu sĩ, Bề Trên nào đã ban hành bản án buộc phải thi hành, hoặc đã ủy quyền cho thẩm phán, thì có bổn phận ra lệnh thi hành bản án.

Điều 1654

§1. Người thi hành phải bảo đảm rằng chính bản án sẽ được thi hành sát nghĩa của từ ngữ, trừ khi chính nội dung của bản án cho phép người ấy được tự do định đoạt phần nào.

§2. Người thi hành có quyền cứu xét những khước biện liên quan đến cách thức và hiệu lực của việc thi hành, nhưng không có quyền cứu xét lý lẽ phải trái của vụ án; vả lại, nếu người ấy biết rằng bản án vô hiệu hay bất công tỏ tường, chiếu theo quy tắc của các điều 1620, 1622, 1645, thì được miễn thi hành và phải trao sự việc lại cho tòa đã ban hành bản án, sau khi đã thông báo cho các bên biết.

Điều 1655

§1. Về phương diện tố quyền đối vật, mỗi khi một đồ vật đã được xét xử và thuộc về nguyên cáo, đồ vật ấy phải được trao cho nguyên cáo ngay sau khi xảy ra vấn đề quyết tụng.

§2. Về phương diện tố quyền đối nhân, khi bị cáo đã bị buộc phải trao một động sản, phải trả một món tiền, phải cho hay phải làm một việc gì khác, thì thẩm phán trong chính bản án, hoặc người thi hành, theo sự định đoạt tự do và theo sự khôn ngoan của mình, phải ấn định một hạn kỳ để chu toàn nghĩa vụ, nhưng hạn kỳ này không được dưới mười lăm ngày và không được quá sáu tháng.

THIÊN 2
XỬ ÁN HỘ SỰ KHẨU BIỆN

Điều 1656

§1. Tất cả các vụ án mà luật không loại trừ có thể được xét xử theo thủ tục xử án hộ sự khẩu biện được nói đến trong thiên này, trừ khi có một bên yêu cầu phải xét xử theo thủ tục xử án hộ sự thông thường.

§2. Nếu thủ tục xử án hộ sự khẩu biện được sử dụng ngoài những trường hợp mà luật cho phép, thì những án từ tư pháp sẽ bị vô hiệu.

Điều 1657

Việc xử án hộ sự khẩu hiệu được thực hiện ở cấp một trước mặt một thẩm phán duy nhất, chiếu theo quy tắc của điều 1424.

Điều 1658

§1. Ngoài những điểm được nêu ra ở điều 1504, đơn khởi tố phải:

10 trình bày vắn tắt, đầy đủ và rõ ràng những sự kiện mà nguyên cáo dựa vào đó để thỉnh cầu;

20 trình bày thế nào để thẩm phán có thể thu nhập được ngay những chứng cớ mà nguyên cáo chủ ý dùng để chứng minh các sự kiện, nhưng không thể đưa ra cùng một lúc được.

§2. Phải đính kèm theo đơn những tài liệu làm nền tảng cho việc thỉnh cầu, ít ra là bản sao có công chứng.

Điều 1659

§1. Nếu việc cố gắng hòa giải chiếu theo quy tắc của 9iều 1446 §2 đã thát bại, và nếu nhận thấy đơn khởi tố có một vài nền tảng, thì trong vòng ba ngày, bằng một quyết định phê ở dưới đơn, thẩm phán phải ra lệnh thông báo cho bị cáo biết bản sao của đơn thỉnh cầu, và cho phép bị cáo gửi đến văn phòng tòa án một bản phúc đáp, trong vòng mười lăm ngày.

§2. Việc thông báo này có hiệu lực như việc triệu tập ra tòa được nói đến ở điều 1512.

Điều 1660

Nếu những khước biện của bị cáo đòi hỏi, thẩm phán phải ấn định cho nguyên cáo một thời hạn để trả lời nhằm thấy rõ đối tượng của việc tranh tụng nhờ các yếu tố do mỗi bên đưa ra.

Điều 1661

§1. Một khi các thời hạn được nói đến ở điều 1659 và 1660 đã mãn, và sau khi đã nghiên cứu các án từ, thẩm phán phải xác định thể thức nghi vấn; sau đó phải triệu tập tất cả những người có liên hệ ra toà, để họp trong vòng không quá ba mươi ngày; thể thức nghi vấn phải được đính kèm theo lệnh triệu tập các bên.

§2. Trong giấy triệu tập, phải thông báo cho các bên biết, ít nhất là ba ngày trước khi họp phiên toà, là họ có thể trình tòa một bản báo cáo vắn tắt để chứng minh những điều mà họ quả quyết.

Điều 1662

Trong phiên toà, trước hết bàn đến những vấn đề được nói đến ở những điều 1459-1464.

Điều 1663

§1. Phải thu nhập những chứng cớ trong phiên họp, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1418.

§2 Một đương sự và luật sư của mình có thể tham dự cuộc thẩm vấn những đương sự khác, những nhân chứng và những giám định viên.

Điều 1664

Một công chứng viên phải ghi vào biên bản những câu trả lời của các bên, của các nhân chứng, của các giám định viên, những lời thỉnh cầu và khước biện của các luật sư, nhưng cần ghi cách sơ lược và chỉ ghi những điều liên quan đến nội dung của vụ tranh tụng mà thôi, biên bản này phải được những người cung khai ký vào.

Điều 1665

Những chứng cớ đã không được nêu ra hoặc đã không được hỏi đến trong đơn thỉnh nguyện hay trong các câu trả lời, chỉ có thể được thẩm phán chấp nhận chiếu theo quy tắc của điều 1452; tuy nhiên, sau khi đã nghe dù chỉ một nhân chứng, thẩm phán chỉ có thể quyết định đòi thêm những cớ mới, chiếu theo quy tắc của điều 1600.

Điều 1666

Nếu không thể thu thập được tất cả mọi chứng cớ trong phiên họp đó, thì phải ấn định một phiên họp khác.

Điều 1667

Khi đã thu nhập các chứng cớ xong, thì cuộc tranh luận khẩu biện sẽ được diễn ra trong cùng một phiên họp.

Điều 1668

§1. Nếu cuộc tranh luận cho thấy là không nhất thiết phải bổ túc việc thẩm cứu vụ án hoặc không có điều gì ngăn trở việc tuyên án đúng đắn, thì thẩm phán phải lập tức giải quyết vụ án một mình, sau khi đã kết thúc phiên họp; phần chủ văn của bản án phải được đọc ngay trước mặt các bên.

§2. Tuy nhiên, vì vấn đề khó khăn hay vì một lý do chính đáng khác, tòa án có thể hoãn lại việc quyết định cho đến ngày hữu dụng thứ năm.

§3. Nguyên văn bản án, kể cả các lý do được viện dẫn, bình thường phải được thông báo cho các bên biết càng sớm càng tốt, và không quá mười lăm ngày.

Điều 1669

Nếu xét thấy thủ tụ xử án hộ sự khẩu biện đã được áp dụng ở tòa án cấp dưới trong những trường hợp bị luật loại trừ, thì tòa kháng cáo phải tuyên bố bản án vô hiệu và phải gửi trả vụ án lại cho tòa đã ban hành bản án.

Điều 1670

Về những vấn đề khác liên quan đến cách thức tiến hành, phải giữ những quy định của những điều liên quan đến việc xử án hộ sự thông thường. Tuy nhiên, bằng một sắc lệnh có viện dẫn lý do, tòa án có thể sửa đổi những quy tắc tố tụng không cần thiết cho sự hữu hiệu, để vấn đề được giải quyết nhanh chóng, miễn là vẫn tôn trọng công lý.

PHẦN III
VÀI VỤ TỐ TỤNG ĐẶC BIỆT

ĐỀ MỤC 1
TỐ TỤNG HÔN NHÂN

CHƯƠNG 1
NHỮNG VỤ ÁN TUYÊN BỐ
HÔN NHÂN BẤT THÀNH

TIẾT 1
TÒA ÁN CÓ THẨM QUYỀN

Điều 1671

Do luật riêng, các vụ án hôn nhân của những người đã được rửa tội, thuộc quyền thẩm phán Giáo Hội.

Điều 1672

Các vụ án liên quan đến những hiệu lực thuần túy dân sự của hôn nhân thuộc thẩm quyền thẩm phán dân sự, trừ khi luật địa phương ấn định rằng thẩm phán Giáo Hội có thể cứu xét và giải quyết chính các vụ án đó, nếu các vụ án ấy được giải quyết như là vấn đề phụ và tùy tòng.

Điều 1673

Đối với những vụ án về tính bất thành của hôn nhân mà Tông Tòa không dành riêng cho mình, thì tòa án có thẩm quyền là:

10 tòa án nơi hôn nhân đã được cử hành;

20 tòa án tại nơi bị cáo có cư sở hay bán cư sở;

30 tòa án tại nơi nguyên cáo có cư sở, miễn là cả hai bên đều cư ngụ trong địa hạt của cùng một Hội Đồng Giám Mục, và miễn là có sự đồng ý của vị Đại Diện tư pháp tại nơi bị cáo có cư sở, sau khi bị cáo đã được hỏi ý kiến;

40 tòa án tại nơi mà trong thực tế đã thu thập được hầu hết các chứng cớ, miễn là có sự đồng ý của vị Đại Diện tư pháp tại nơi bị cáo có cư sở, sau khi đã hỏi bị cáo có khước biện hay không.

TIẾT 2
QUYỀN KHÁNG NGHỊ HÔN NHÂN

Điều 1674

Những người có năng cách kháng nghị hôn nhân là:

10 những người phối ngẫu;

20 công tố viên, khi sự bất thành của hôn nhân đã trở thành công khai, nếu không thể thành sự hóa, hoặc không có lợi nếu thành sự hóa.

Điều 1675

§1. Hôn nhân nào đã không bị tố cáo khi hai người phối ngẫu còn sống, thì cũng không thể bị tố cáo khi một trong hai hay cả hai đã chết, trừ khi vấn đề thành sự của hôn nhân là vấn đề tiên quyết để giải quyết một cuộc tranh tụng khác hoặc ở tòa án Giáo Hội hoặc ở tòa án dân sự.

§2. Nhưng nếu một người phối ngẫu chết trong khi vụ án chưa ngã ngũ, thì phải giữ điều 1518.

TIẾT 3
NHIỆM VỤ THẨM PHÁN

Điều 1676

Trước khi nhận xử một vụ án và mỗi khi có hy vọng đạt kết quả tốt, thẩm phán phải dùng các phương tiện mục vụ để khuyên nhủ hai người phối ngẫu nên thành sự hóa hôn nhân và nên tái lập đời sống chung vợ chồng, nếu có thể được.

Điều 1677

§1. Khi đã nhận đơn, chánh án hay báo cáo viên phải thông báo sắc lệnh triệu tập ra tòa chiếu theo quy tắc của điều 1508.

§2. Quá thời hạn mười lăm ngày kể từ khi thông báo, trừ khi một bên yêu cầu mở một phiên tòa để đối tụng, chánh án hay báo cáo viên phải ra sắc lệnh ấn định thể thức nghi vấn hoặc những nghi vấn trong thời hạn mười ngày chiếu theo chức vụ, và phải thông báo cho các bên biết sắc lệnh này.

§3. Việc ấn định thể thức nghi vấn không những phải đặt vấn đề xem hôn nhân có chắc chắn bất thành trong trường hợp này hay không, mà còn phải xác định xem hôn nhân thành sự đã bị kháng nghị vì lý do nào hoặc vì những lý do nào.

§4. Sau mười ngày kể từ khi thông báo sắc lệnh đó, nếu các bên không phản đối gì, chánh án hay báo cáo viên phải ra một sắc lệnh mới để quyết định thẩm cứu vụ án.

TIẾT 4
NHỮNG CHỨNG CỚ

Điều 1678

§1. Bảo hệ viên, các luật sư của các bên và cả công tố viên, nếu vị này tham gia tố tụng, đều:

10 có mặt trong lúc thẩm vấn các bên, các người làm chứng và các giám định viên, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1559;

20 xem các án từ tư pháp, ngay cả khi những án từ đó chưa được công bố, và nghiên cứu các tài liệu do các bên cung cấp.

§2. Các bên không được tham dự cuộc thẩm vấn được nói đến ở §1, 10.

Điều 1679

Trừ khi những chứng cớ có đầy đủ giá trị thuyết phục từ nguồn khác, để đánh giá những lời khai của các bên, chiếu theo quy tắc của điều 1536, thẩm phán phải nại đến những nhân chứng, nếu có thể được, để xem chính các bên có đáng tin hay không, ngoài những dấu hiệu và những yếu tố có tính thuyết phục khác.

Điều 1680

Trong những vụ án về sự bất lực hay về sự thiếu ưng thuận do bệnh tâm thần, thẩm phán phải nhờ đến sự giúp đỡ của một hay nhiều giám định viên, trừ khi hoàn cảnh cho thấy rõ là việc giám định không cần thiết; còn trong những vụ án khác, phải giữ những quy định của điều 1574.

TIẾT 5
BẢN ÁN VÀ KHÁNG CÁO

Điều 1681

Mỗi khi thẩm cứu vụ án mà thấy có một nghi vấn rất hữu lý về hôn nhân bất hoàn hợp, tòa án có thể đình hoãn vụ án về hôn nhân bất thành, với sư đồng ý của các bên, bổ túc việc thẩm cứu để xin miễn chuẩn hôn nhân thành nhận, và sau đó chuyển những án từ đến Tông Tòa, kèm theo đơn xin chuẩn của một hay của hai người phối ngẫu, cùng với ý kiến của tòa án và của Giám Mục.

Điều 1682

§1. Bản án đã tuyên bố trước tiên là hôn nhân không thành, những đơn kháng cáo, nếu có, cũng như những án từ khác, phải được chuyển lên tòa kháng cáo, chiếu theo chức vụ, trong vòng hai mươi ngày kể từ khi công bố bản án.

§2. Nếu một bản án tuyên bố là hôn nhân không thành được công bố ở tòa án cấp một, thì tòa kháng cáo phải nghiên cứu những nhận xét của bảo hệ viên và của các bên nếu có, và phải ra một sắc lệnh hoặc để xác nhận ngay quyết định hoặc để nghiên cứu vụ án theo cách thông thường ở cấp bậc mới.

Điều 1683

Nếu ở cấp kháng cáo người ta đưa ra một lý do mới khiến hôn nhân không thành, thì tòa án có thể chấp nhận lý do đó ở cấp một và xét xử như ở tòa cấp một.

Điều 1684

§1. Sau khi bản án tuyên bố là hôn nhân bất thành được xác nhận ở cấp kháng cáo bằng một sắc lệnh hay bằng một bản án thứ nhì, thì những người mà hôn nhân của họ được tuyên bố là bất thành có thể tái hôn ngay sau khi sắc lệnh hay bản án thứ hai được thông báo cho họ biết, trừ khi lệnh cấm tái hôn được kèm theo bản án hay sắc lệnh, hoặc trừ khi Đấng Bản Quyền địa phương ra lệnh cấm tái hôn.

§2. Phải giữ những quy định của điều 1644, ngay cả khi bản án tuyên bố là hôn nhân không thành đã được xác nhận, không phải bằng một bản án thứ nhì, nhưng bằng một sắc lệnh.

Điều 1685

Ngay sau khi bản án có hiệu lực để được thi hành, vị Đại Diện tư pháp phải thông báo bản án đó cho Đấng Bản Quyền địa phương nơi hôn nhân đã được cử hành. Vị này phải quan tâm ghi chú việc công bố hôn nhân không thành và những lệnh cấm kèm theo, nếu có, vào sổ hôn phối và sổ rửa tội, sớm hết sức có thể.

TIẾT 6
TỐ TỤNG DỰA TRÊN TÀI LIỆU

Điều 1686

Sau khi đã nhận một đơn thỉnh cầu chiếu theo quy tắc của điều 1677, vị Đại Diện tư pháp hay thẩm phán do ngài chỉ định, có thể tuyên bố hôn nhân bất thành bằng một bản án, nếu có một tài liệu không thể bị phản đối hay khước biện chứng minh rằng chắc chắn có một ngăn trở tiêu hôn hay thiếu hình thức hợp lệ, miễn là tài liệu này phải hiển nhiên và phải xác tín rằng ngăn trở đã không được miễn chuẩn hoặc người đại diện đã không có ủy nhiệm thư hữu hiệu.

Trong những vụ án này, những thể thức pháp lý của một vụ án thông thường được bỏ qua, trừ việc triệu tập các bên ra tòa và sự can thiệp của bảo hệ viên.

Điều 1687

§1. Nếu bảo hệ viên nhận định cách khôn ngoan rằng những hà tỳ được nói đến ở điều 1686 hoặc việc thiếu phép chuẩn là điều không chắc chắn, thì phải kháng án lên thẩm phán tòa án cấp hai để chống lại lời tuyên bố đó. Các án từ phải được chuyển lên thẩm phán tòa án cấp hai, và thông báo bằng văn bản cho vị này biết đó là một vụ tố tụng dựa trên tài liệu.

§2. Bên nào cảm thấy mình bị thiệt hại, thì bên đó có toàn quyền kháng cáo.

Điều 1688

Với sự can thiệp của bảo hệ viên và sau khi nghe các bên, thẩm phán tòa án cấp hai phải quyết định cũng một cách thức nói ở điều 1686, xem có phải xác nhận bản án hay không hoặc có phải giải quyết vụ án theo cách thông thường của luật hay không; trong trường hợp này, thẩm phán gửi trả vụ án về tòa án cấp một.

TIẾT 7
NHỮNG QUY TẮC TỔNG QUÁT

Điều 1689

Trong bản án, phải nhắc nhở cho các bên biết những nghĩa vụ luân lý hay cả những nghĩa vụ dân sự mà bên này phải có đối với bên kia và đối với con cái họ trong việc cấp dưỡng và giáo dục.

Điều 1690

Không thể áp dụng việc xử án hộ sự khẩu biện cho những vụ án tuyên bố hôn nhân bất thành.

Điều 1691

Trong những vấn đề khác liên quan đến thủ tục, phải áp dụng những điều luật về những việc xử án nói chung và về việc xử án hộ sự thông thường, trừ khi bản chất sự việc không cho phép, miễn là vẫn giữ nguyên những quy tắc đặc biệt liên quan đến những vụ án về tình trạng nhân thân và những vụ án có dính dáng tới công ích.

CHƯƠNG 2
CÁC VỤ ÁN VỢ CHỒNG LY THÂN

Điều 1692

§1. Trừ khi luật đã dự liệu cách khác cho các địa phương một cách hợp pháp, việc ly thân giữa vợ chồng đã được rửa tội có thể được giải quyết bằng một sắc lệnh của Giám Mục giáo phận hoặc bằng một bản án của thẩm phán, chiếu theo quy tắc của những điều khoản sau đây.

§2. Ở nơi nào mà quyết định của nhà chức trách Giáo Hội không có hiệu lực dân sự, hoặc nếu thấy bản án dân sự không nghịch với luật Thiên Chúa, thì Giám Mục giáo phận tại nơi cư trú của hai vợ chồng có thể cho phép họ nại đến tòa án dân sự, sau khi đã cân nhắc những hoàn cảnh riêng biệt.

§3. Nếu vụ án cũng liên quan đến những hiệu lực thuần túy dân sự của hôn nhân, thẩm phán phải liệu sao cho vụ án được chuyển sang tòa án dân sự ngay từ đầu, miễn là vẫn giữ những quy định của §2.

Điều 1693

§1. Phải áp dụng cách xử án hộ sự khẩu biện, trừ khi một bên hay công tố viên yêu cầu áp dụng việc xử án hộ sự thông thường.

§2. Nếu đã áp dụng cách xử án hộ sự thông thường và nếu có kháng án, thì tòa án cấp hai phải tiến hành chiếu theo quy tắc của điều 1682 §2, miễn là vẫn giữ những gì luật định.

Điều 1694

Phải giữ những quy định của điều 1673 trong những điều liên quan đến thẩm quyền của tòa án.

Điều 1695

Trước khi nhận xử một vụ án và mỗi khi có hy vọng đạt kết quả tốt, thẩm phán phải dùng các phương thế mang tính cách mục vụ để hòa giải các người phối ngẫu và để khuyên nhủ họ tái lập đời sống chung vợ chồng.

Điều 1696

Các vụ án vợ chồng ly thân cũng liên quan đến công ích; vì thế, công tố viên luôn luôn phải can thiệp, chiếu theo quy tắc của điều 1433.

CHƯƠNG 3
TỐ TỤNG ĐỂ MIỄN CHUẨN
HÔN NHÂN THÀNH NHẬN VÀ BẤT HÒA HỢP

Điều 1697

Chỉ hai vợ chồng hoặc một trong hai, mặc dầu người kia không muốn, mới có quyền xin phép chuẩn hôn nhân thành nhận và bất hoàn hợp.

Điều 1698

§1. chỉ một mình Tông Tòa xét xử sự kiện bất hoàn hợp của hôn nhân và sự hiện hữu của một lý do chính đáng để ban phép chuẩn.

§2. Chỉ một mình Đức Giáo Hoàng Rôma ban phép chuẩn.

Điều 1699

§1. Giám Mục giáo phận tại nơi đương sự có cư sở hay bán cư sở có thẩm quyền nhận đơn xin phép chuẩn và ra lệnh tiến hành thẩm cứu vụ án, nếu xét thấy đơn thỉnh nguyện có cơ sở.

§2. Tuy nhiên, nếu trường hợp đề ra có những khó khăn đặc biệt thuộc lĩnh vực pháp lý hay luân lý, Giám Mục giáo phận phải xin ý kiến Tông Tòa.

§3. Nếu Giám Mục ra sắc lệnh bác đơn thỉnh nguyện, thì có thể kháng án lên Tông Tòa để chống lại sắc lệnh này.

Điều 1700

§1. Giám Mục phải trao việc thẩm cứu những vụ án đó cho tòa án giáo phận mình, hoặc cho tòa án giáo phận khác, hoặc cho một tư tế có khả năng, cách thường xuyên hay cho từng trường hợp một, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1681.

§2. Nhưng nếu đã nộp một lá đơn có tính cách pháp lý để xin tòa tuyên bố là chính hôn nhân đó bất thành, thì việc thẩm cứu phải được trao cho cùng một tòa án.

Điều 1701

§1. Bảo hệ viên luôn phải can thiệp vào các vụ này.

§2. Không chấp nhận có luật sư, nhưng Giám Mục có thể cho phép nguyên cáo hay bị cáo nhờ một chuyên viên luật giúp đỡ trong trường hợp khó khăn.

Điều 1702

Trong khi thẩm cứu phải nghe cả hai người phối ngẫu và trong mức độ có thể, phải giữ các điều luật liên quan đến việc thu thập chứng cớ trong vụ án hộ sự thông thường và trong những vụ án hôn nhân bất thành, miễn là những điều luật đó có thể được thích nghi với bản chất của các vụ án này.

Điều 1703

§1. Các án từ không được công bố; tuy nhiên, nếu thẩm phán thấy có một trở ngại nghiêm trọng cho lời thỉnh cầu của nguyên cáo hay cho lời khước biện của bị cáo, vì những chứng cớ viện dẫn, thì thẩm phán phải khôn ngoan báo cho đương sự liên hệ biết.

§2. Thẩm phán có thể chỉ cho đương sự nào yêu cầu xem một tài liệu đã được đệ nạp hay một chứng cớ đã được thu thập và ấn định một thời hạn để đương sự ấy đưa ra những nhận định.

Điều 1704

§1. Sau khi đã thẩm cứu, người thẩm cứu phải chuyển tất cả mọi án từ cùng với một bản tường trình thích hợp cho Giám Mục, Giám Mục phải soạn thảo ý kiến của mình dựa trên sự thật của sự kiện hôn nhân bất hoàn hợp, cũng như lý do chính đáng để miễn chuẩn, và sự thích hợp của phép chuẩn.

§2. Nếu việc thẩm cứu đã được trao cho một tòa án khác chiếu theo quy tắc của điều 1700, thì những lời nhận xét bênh vực dây hôn nhân phải do cùng một tòa soạn thảo, nhưng ý kiến được nói đến ở §1 thuộc về Giám Mục đã ủy quyền, và người thẩm cứu phải trao cho ngài một bản tường trình thích hợp cùng với những án từ.

Điều 1705

§1. Giám Mục phải chuyển lên Tông Tòa tất cả các án từ cùng với ý kiến của mình và những nhận xét của bảo hệ viên.

§2. Nếu xét thấy cần phải bổ túc việc thẩm cứu, thì Tông Tòa sẽ thông báo cho Giám Mục biết điều ấy và sẽ chỉ rõ những điểm cần phải thẩm cứu thêm.

§3. Nếu Tông Tòa phúc đáp rằng sự kiện hôn nhân bất hoàn hợp không được xác định qua những tài lệu được viện dẫn, thì chuyên viên luật được nói đến ở điều 1701 §2, có thể tham khảo những án từ của vụ án ở tòa án, ngoại trừ ý kiến của Giám Mục, để nhận định xem có thể thêm một điều gì hệ trọng hay không, hầu đệ nạp một đơn thỉnh cầu mới.

Điều 1706

Phúc chiếu ban phép chuẩn được Tông Tòa chuyển đến Giám Mục; vị này phải thông báo cho các bên biết phúc chiếu đó, ngoài ra ngài phải truyền lệnh cho cha sở tại nơi cử hành hôn nhân, cũng như cho cha sở tại nơi đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội, càng sớm càng tốt, để ghi phép chuẩn đã ban vào sổ hôn nhân và sổ rửa tội.

CHƯƠNG 4
TỐ TỤNG SUY ĐOÁN NGƯỜI PHỐI NGẪU ĐÃ CHẾT

Điều 1707

§1. Mỗi khi cái chết của một người phối ngẫu không thể được chứng minh bằng một tài liệu chính thức của nhà chức trách Giáo Hội hay của chính quyền, thì người phối ngẫu kia không được quyền tháo bỏ dây hôn nhân, trừ khi Giám Mục giáo phận đã tuyên bố là người phối ngẫu đó được suy đoán là đã chết.

§2. Nhưng đã nói ở §1, Giám Mục giáo phận chỉ có thể tuyên bố là ngài có được sự xác tín luân lý về cái chết của người phối ngẫu, sau khi đã nghiên cứu cẩn thận, dựa vào những lời khai của các nhân chứng, dựa vào dư luận hoặc dựa vào những dấu chỉ khác. Chỉ nguyên sự vắng mặt của người phối ngẫu mà thôi, tuy đã lâu ngày, thì không đủ.

§3. Trong những trường hợp không chắc chắn và phức tạp, Giám Mục phải xin ý kiến Tông Tòa.

ĐỀ MỤC 2
CÁC VỤ ÁN TUYÊN BỐ
VIỆC TRUYỀN CHỨC THÁNH BẤT THÀNH

Điều 1708

Chính giáo sĩ, hoặc Đấng Bản Quyền mà giáo sĩ lệ thuộc, hoặc Đấng Bản Quyền của giáo phận nơi giáo sĩ đã được truyền chức, có quyền không thừa nhận việc truyền chức thánh thành sự.

Điều 1709

§1. Đơn phải được gửi tới Bộ có thẩm quyền, Bộ này sẽ quyết định vụ án phải do chính Bộ của Giáo Triều Rôma xét xử hay hay do một tòa án được Bộ chỉ định.

§2. Một khi đã gửi đơn, giáo sĩ bị cấm thi hành chức thánh do chính luật.

Điều 1710

Nếu Bộ đã trao vụ án lại cho một tòa án, thì tòa án phải giữ các điều liên quan đến việc xét xử nói chung và về việc xử án hộ sự thông thường, trừ khi bản chất của sự việc không cho phép, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của đề mục này.

Điều 1711

Trong những vụ án này, bảo hệ viên được hưởng những quyền lợi và phải giữ những nghĩa vụ như bảo hệ viên hôn nhân.

Điều 1712

Sau khi bản án thứ hai đã xác nhận việc truyền chức thánh bất thành, giáo sĩ mất hết mọi quyền lợi dành riêng cho bậc giáo sĩ và không bị các nghĩa vụ ràng buộc.

ĐỀ MỤC 3
NHỮNG CÁCH THỨC TRÁNH KIỆN TỤNG

Điều 1713

Để tránh tố tụng hộ sự, nên điều đình hay hòa giải với nhau, hoặc có thể ủy thác cho một hay nhiều trọng tài xét xử cuộc tranh chấp.

Điều 1714

Về việc điều đình, thỏa hiệp và xét xử qua trọng tài, thì phải giữ những quy tắc do các bên lựa chọn, hay nếu các bên không lựa chọn quy tắc nào, thì phải giữ luật do Hội Đồng Giám Mục ban hành, nếu có, hay phải giữ luật dân sự hiện hành tại nơi đã ký giao ước.

Điều 1715

§1. Không thể thực hiện cách hữu hiệu việc điều đình hoặc việc thoả hiệp trong những vấn đề liên quan đến công ích và trong những vấn đề mà các bên không thể tự do định đoạt được.

§2. Nếu vấn đề liên quan đến những tài sản vật chất của Giáo Hội, phải giữ những thể thức do luật đã ấn định về việc chuyển nhượng tài sản của Giáo Hội, mỗi khi sự việc đòi như vậy.

Điều 1716

§1. Nếu luật dân sự buộc phán quyết của trọng tài phải được một thẩm phán phê chuẩn mới có hiệu lực, thì phán quyết của trọng tài về một vụ tranh chấp trong Giáo Hội, để có hiệu lực ở tòa giáo luật, cần phải có sự phê chuẩn của thẩm phán Giáo Hội tại nơi bản án đã được ban hành.

§2. Tuy nhiên, nếu luật dân sự chấp nhận đơn kháng nghị chống lại phán quyết của trọng tài trước một thẩm phán dân sự, thì chính đơn kháng nghị này cũng có thể được đệ nạp ở tòa giáo luật trước một thẩm phán Giáo Hội có thẩm quyền xét xử cuộc tranh chấp ở cấp một.

PHẦN IV
TỐ TỤNG HÌNH SỰ

CHƯƠNG I
ĐIỀU TRA SƠ KHỞI

Điều 1717

§1. Mỗi khi Đấng Bản Quyền biết một tội phạm đã xảy ra, ít nhất sự nhận biết này dường như là đúng, ngài phải đích thân hoặc nhờ người nào khác có khả năng cẩn thận điều tra về những sự kiện, những hoàn cảnh và việc quy trách nhiệm, trừ khi việc điều tra đó được xem là hoàn toàn thừa thải.

§2. Phải liệu sao đừng để việc điều tra này làm hại thanh danh của bất cứ người nào.

§3. Điều tra viên có những quyền lợi và những nghĩa vụ như một dự thẩm trong vụ tố tụng; nếu sau đó việc tố tụng tư pháp được xúc tiến, thì điều tra viên sẽ không được làm thẩm phán.

Điều 1718

§1. Khi các yếu tố thu thập được xem ra đã đủ, Đấng Bản Quyền phải quyết định:

10 việc tố tụng có thể được tiến hành để tuyên kết hoặc để tuyên bố một hình phạt hay không;

20 có nên chiếu theo điều 1341 để tiến hành việc tố tụng hay không;

30 có cần nại đến một cuộc tố tụng tư pháp hay không, hoặc nếu luật không cấm, có cần phải tiến hành bằng sắc lệnh ngoài tòa hay không.

§2. Đấng Bản Quyền phải thu hồi hay phải sửa đổi sắc lệnh được nói đến ở §1, mỗi khi các yếu tố mới thúc đẩy ngài phải quyết định cách khác.

§3. Khi ban hành những sắc lệnh được nói đến ở §§1 và 2, Đấng Bản Quyền phải tham khảo hai thẩm phán hay những chuyên viên luật, tùy sự xét đoán khôn ngoan của mình.

§4. Trước khi quyết định chiếu theo quy tắc của §1, Đấng Bản Quyền phải xét xem có nên tự mình hoặc nhờ điều tra viên, với sự thoả thuận của các bên, giải quyết vấn đề thiệt hại cách hợp tình hợp lý hay không, để tránh được những việc xét xử vô ích.

Điều 1719

Những án từ điều tra và những sắc lệnh của Đấng Bản Quyền để khởi sự hoặc kết thúc cuộc điều tra, cũng như tất cả những tài liệu có trước cuộc điều tra, phải được lưu trữ trong văn khố mật của tòa giám mục, nếu không cần thiết cho việc tố tụng hình sự.

CHƯƠNG 2
DIỄN TIẾN TỐ TỤNG

Điều 1720

Nếu Đấng Bản Quyền nhận thấy phải tiến hành bằng một sắc lệnh ngoài toà:

10 ngài phải thông báo cho bị cáo biết cáo trạng với những chứng cớ, và cho họ quyền tự biện hộ, trừ khi bị cáo được triệu tập cách hợp pháp nhưng đã lơ là không ra trình diện;

20 ngài phải cẩn thận cân nhắc mọi chứng có và mọi luận cứ với hai hội thẩm;

30 ngài phải ra một sắc lệnh, chiếu theo quy tắc của các điều 1342-1350, để trình bày ít là cách vắn tắt những lý do về pháp lý và về sự kiện, nếu nhận thấy rõ là tội phạm đã xảy ra và nếu tố quyền hình sự chưa bị tiêu hủy.

Điều 1721

§1. Nếu Đấng Bản Quyền quyết định tiến hành một vụ tố tụng hình sự trong tòa, ngài phải chuyển những án từ điều tra tới công tố viên, để vị này nộp đơn khởi tố lên thẩm phán, chiếu theo quy tắc của những điều 1502 và 1504.

§2. Ở tòa thượng cấp, công tố viên nào đã được thiết lập cho tòa đó, thì phải giữ vai trò nguyên cáo.

Điều 1722

Để phòng ngừa gương xấu, để bảo vệ tự do của các nhân chứng và để bảo đảm sự lưu hành của công lý, thì sau khi hội ý với công tố viên và chính bị cáo, Đấng Bản Quyền có thể trong bất cứ giai đoạn nào của vụ án, cấm bị cáo thi hành thừa tác vụ thánh, hay một chức vụ và nhiệm vụ nào trong Giáo Hội, buộc hoặc cấm bị cáo không được cư ngụ ở một nơi hay một địa hạt nào, và cũng có thể cấm người đó không được công khai tham dự Thánh Thể; tất cả các biện pháp này phải được thu hồi khi không còn lý do và đương nhiên chấm dứt khi việc tố tụng hình sự kết thúc.

Điều 1723

§1. Khi triệu tập các bị cáo ra toà, thẩm phán phải mời bị cáo tự chọn cho mình một luật sư chiếu theo quy tắc của điều 1481§1, trong thời hạn do chính thẩm phán ấn định.

§2. Nếu bị cáo không chọn luật sư, thì chính thẩm phán sẽ bổ nhiệm một luật sư trước khi đối tụng, luật sư này phải giữ nhiệm vụ bao lâu bị cáo không chọn luật sư cho mình.

Điều 1724

§1. Ở bất cứ cấp bậc nào của vụ án, công tố viên có thể bãi nại do mệnh lệnh hoặc với sự đồng ý của Đấng Bản Quyền đã quyết định bắt đầu vụ án.

§2. Để có hiệu lực, việc bãi nại này phải được bị cáo chấp nhận, trừ khi tòa tuyên bố là chính bị cáo đã vắng mặt.

Điều 1725

Trong khi tranh luận vụ án, hoặc trên giấy tờ hoặc bằng khẩu biện, chính bị cáo, hoặc luật sư của bị cáo, hoặc người đại diện của bị cáo, luôn luôn có quyền viết hay nói sau cùng.

Điều 1726

Ở bất cứ cấp bậc và giai đoạn nào của vụ tố tụng hình sự, nếu thấy rõ bị cáo đã không thực hiện tội phạm, thẩm phán phải tuyên bố điều đó bằng một bản án và tha bổng bị cáo, ngay cả khi tố quyền hình sự đã bị tiêu hủy cùng một lúc.

Điều 1727

§1. Bị cáo có thể kháng cáo, ngay cả khi bản án chỉ tha cho bị cáo, vì hình phạt có tính tùy ý hay vì thẩm phán đã dùng quyền được nói đến ở các điều 1344 và 1345.

§2. Công tố viên có thể kháng cáo mỗi khi xét thấy việc sửa lại gương xấu hay việc lập lại công lý đã không được quy định đầy đủ.

Điều 1728

§1. Miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của các điều trong chương này, trừ khi bản chất của sự việc không cho làm như thế, những điều liên quan đến việc xử án nói chung và việc xử án hộ sự thông thường phải được áp dụng trong tố tụng hình sự, mà vẫn giữ những quy tắc riêng biệt của những vụ án liên quan đến công ích.

§2. Bị cáo không bị buộc phải thú nhận tội phạm và cũng không bị buộc phải tuyên thệ.

CHƯƠNG 3
TỐ QUYỀN ĐÒI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

Điều 1729

§1. Đương sự nào bị thiệt hại có thể sử dụng tố quyền hộ sự để đòi bồi thường những thiệt hại mà mình phải chịu do tội phạm gây ra trong chính việc xét xử hình sự, chiếu theo quy tắc của điều 1596.

§2. Việc can thiệp của đương sự bị thiệt hại, được nói đến ở §1, không được chấp nhận nữa, nếu đã không được thực hiện tại tòa án hình sự cấp một.

§3. Việc kháng cáo trong một vụ án về việc bồi thường thiệt hại, chiếu theo quy tắc của các điều 1628-1640 phải được thực hiện, ngay cả khi việc kháng án này không thể được thực hiện ở tòa án hình sự; nhưng nếu các bên khác nhau đệ trình cả hai việc kháng án, thì cũng chỉ thực hiện một cuộc xét xử kháng cáo mà thôi, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1730.

Điều 1730

§1. Để tránh việc trì hoãn quá lâu trong vụ án hình sự, thẩm phán có thể hoãn vụ án liên quan đến những thiệt hại, cho đến khi tuyên bố bản án chung quyết của vụ án hình sự.

§2. Thẩm phán nào đã làm như trên, thì sau khi đã ra bản án của vụ án hình sự, phải xét xử những thiệt hại, ngay cả khi vụ án hình sự chưa dứt điểm vì đã có kháng cáo, hoặc ngay cả khi bị cáo được tha bổng vì một lý do là phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường những thiệt hại.

Điều 1731

Bản án đã được ban hành trong vụ án hình sự, ngay cả khi đã trở hành vấn đề quyết tụng, không tạo ra một quyền lợi nào cho đương sự bị thiệt hại, trừ khi đương sự này đã can thiệp, chiếu theo quy tắc của điều 1729.

PHẦN V
THỦ TỤC THƯỢNG CẦU
CÓ TÍNH CÁCH HÀNH CHÍNH
VÀ THỦ TỤC GIẢI NHIỆM

HAY THUYÊN CHUYỂN CÁC CHA SỞ

THIÊN 1
THƯỢNG CẦU
CHỐNG LẠI NHỮNG SẮC LỆNH HÀNH CHÍNH

Điều 1732

Phải áp dụng những quy định của các điều liên quan đến các sắc lệnh trong thiên này cho tất cả mọi hành vi hành chính riêng biệt được ban hành ở tòa ngoài mà không cần xét xử, trừ những sắc lệnh do chính Đức Giáo Hoàng Rôma hay do chính Công Đồng chung ban hành.

Điều 1733

§1. Mỗi khi có người cho rằng một sắc lệnh gây thiệt hại cho họ, thì điều mong muốn nhất là đừng để xảy ra tranh chấp giữa người đó và người ban hành sắc lệnh và phải tìm một giải pháp hợp tình hợp lý giữa họ bằng một sự thoả thuận chung với nhau, cũng như bằng sự trung gian hòa giải và bằng những nỗ lực của những người khôn ngoan, nếu cần, để tránh hay để giải quyết cuộc tranh chấp bằng một phương thế thích hợp.

§2. Hội Đồng Giám Mục có thể quyết định thành lập cách ổn định một văn phòng hay một ban cố vấn trong mỗi giáo phận, các tổ chức này có nhiệm vụ phải tìm kiếm và phải đề nghị những giải pháp hợp tình hợp lý, theo những quy tắc do chính Hội Đồng Giám Mục ấn định; nếu Hội Đồng Giám Mục không truyền làm việc đó, thì Giám Mục giáo phận có thể thành lập một văn phòng hay một ban cố vấn theo kiểu này.

§3. Văn phòng hay ban cố vấn được nói đến ở §2 phải hoạt động, nhất là khi có đơn yêu cầu thu hồi một sắc lệnh, chiếu theo quy tắc của điều 1734, và khi thời hạn để thượng cầu chưa chấm dứt; còn nếu đã nộp đơn thượng cầu chống lại sắc lệnh, thì chính thượng cấp xét việc thượng cầu phải khuyên người thượng cầu và người ban hành sắc lệnh nên tìm kiếm những giải pháp nói trên, mỗi khi thấy có hy vọng đạt kết quả tốt.

Điều 1734

§1. Trước khi thượng cầu, đương sự phải viết đơn yêu cầu người ban hành sắc lệnh phải hủy bỏ hoặc phải sửa chữa sắc lệnh; việc nộp đơn này cũng hàm chứa lời yêu cầu phải đình hoãn việc thi hành sắc lệnh.

§2. Phải nộp đơn yêu cầu này trong thời hạn cưỡng định là mười ngày hữu dụng, kể từ khi sắc lệnh được thông báo cách hợp pháp.

§3. Những quy tắc của §§1 và 2 không có hiệu lực:

10 đối với đơn thượng cầu lên Giám Mục để chống lại những sắc lệnh do những người hữu trách thuộc quyền ngài ban hành;

20 đối với đơn thượng cầu chống lại một sắc lệnh đã quyết định phải áp dụng việc thượng cầu hệ trật, trừ khi Giám Mục đã ban hành quyết định đó;

30 đối với những đơn thượng cầu được đệ trình chiếu theo quy tắc của những điều 57 và 1735.

Điều 1735

Trong vòng ba mươi ngày kể từ khi người ban hành sắc lệnh nhận được đơn yêu cầu được nói đến ở điều 1734, nếu người này ban hành một sắc lệnh mới, hoặc để sửa chữa sắc lệnh trước, hoặc để quyết định bác đơn yêu cầu, thì thời hạn để thượng cầu được tính từ lúc thông báo sắc lệnh mới; còn nếu trong vòng ba mươi ngày đó, người ban hành sắc lệnh không quyết định gì, thì thời hạn bắt đầu từ ngày thứ ba mươi.

Điều 1736

§1. Trong những vấn đề mà việc thượng cầu hệ trật đình hoãn việc thi hành sắc lệnh, thì đơn yêu cầu được nói đến ở điều 1734 cũng phát sinh hiệu lực tương tự.

§2. Trong các trường hợp khác, nếu người ban hành sắc lệnh không quyết định đình hoãn việc thi hành trong vòng bốn mươi ngày, kể từ khi nhận được đơn yêu cầu được nói đến ở điều 1734, thì việc đình hoãn tạm thời có thể được yêu cầu nơi thượng cấp hệ trật của người ban hành sắc lệnh; vị này chỉ có thể quyết định đình hoãn việc thi hành vì những lý do nghiêm trọng mà thôi mà luôn luôn phải liệu sao đừng để gây thiệt hại gì cho phần rỗi các linh hồn.

§3. Sau khi đình hoãn việc thi hành sắc lệnh, chiếu theo quy tắc của §2, nếu sau đó đơn thượng cầu được đệ trình, thì người nào xét xử việc thượng cầu ấy, chiếu theo quy tắc của điều 1737 §3, phải quyết định xem có phải xác nhận hoặc có phải thu hồi lệnh đình hoãn hay không.

§4. Nếu không có đơn thượng cầu nào được đệ trình chống lại sắc lệnh trong thời hạn đã được ấn định, thì việc đình hoãn thi hành với hiệu lực tạm thời, chiếu theo quy tắc của §1 hay §2, sẽ đương nhiên chấm dứt.

Điều 1737

§1. Người nào cảm thấy mình bị thiệt hại do một sắc lệnh, thì có thể thượng cầu lên thượng cấp hệ trật của người ban hành sắc lệnh, vì bất cứ lý do chính đáng nào; đơn thượng cầu có thể đệ trình cho chính người ban hành sắc lệnh, và người này phải chuyển ngay đơn đó lên thượng cấp hệ trật có thẩm quyền.

§2. Đơn thượng cầu phải được đệ trình trong thời hạn cưỡng định là mười lăm ngày hữu dụng; trong những trường hợp được nói đến ở điều 1734 §3, thì thời hạn này bắt đầu từ lúc thông báo sắc lệnh, nhưng trong các trường hợp khác thì chiếu theo quy tắc của điều 1735.

§3. Ngay cả trong những trường hợp mà đơn thượng cầu không đương nhiên đình hoãn việc thi hành sắc lệnh, và ngay cả khi việc đình hoãn chiếu theo quy tắc của điều 1736 §2 đã không được quyết định, thì thượng cấp có thể ra lệnh đình hoãn việc thi hành vì một lý do nghiêm trọng, nhưng phải liệu sao đừng để gây thiệt hại gì cho phần rỗi các linh hồn.

Điều 1738

Người thượng cầu luôn có quyền nhờ một luật sư hay một người đại dịên, nhưng cần tránh những trì hoãn vô ích; hơn nữa, thượng cấp phải đặt một người biện hộ chiếu theo chức vụ, nếu thấy việc đó là cần thiết, và nếu người thượng cầu không có người biện hộ; nhưng thượng cấp luôn có thể ra lệnh cho người thượng cầu phải đích thân ra tòa để được thẩm vấn.

Điều 1739

Thượng cấp xét xử đơn thượng cầu, tùy trường hợp, chẳng những được phép xác nhận sắc lệnh hay tuyên bố sắc lệnh vô hiệu, mà còn được phép hủy bỏ, thu hồi, hoặc sửa chữa, thay thế hay bãi bỏ sắc lệnh, nếu điều đó thích hợp hơn.

THIÊN 2
THỦ TỤC GIẢI NHIỆM
HAY THUYÊN CHUYỂN CÁC CHA SỞ

CHƯƠNG 1
THỦ TỤC GIẢI NHIỆM CÁC CHA SỞ

Điều 1740

Khi thừa tác vụ của một cha sở trở nên nguy hại hay ít là không có hiệu quả vì một lý do nào đó, dù không phải là lỗi nặng của ngài, thì ngài có thể bị Giám Mục giáo phận giải nhiệm khỏi giáo xứ.

Điều 1741

Những lý do chính yếu khiến cho một cha sở có thể bị giải nhiệm một cách hợp pháp khỏi giáo xứ là:

10 cách thức hành động gây thiệt hại hay xáo trộn nặng cho sự hiệp thông trong Giáo Hội;

20 sự thiếu khả năng hoặc bệnh tật thường xuyên về tinh thần hay thể xác khiến cho cha sở không đủ sức chu toàn nhiệm vụ của mình một cách hữu hiệu;

30 sự mất thanh danh nơi các giáo dân lương thiện và đứng đắn, hoặc sự hiềm khích chống lại cha sở mà người ta dự kiến là sẽ không chấm dứt trong một thời gian ngắn;

40 vẫn có sự chễnh mảng nghiêm trọng hoặc vẫn vi phạm các nhiệm vụ của cha sở sau khi đã bị cảnh cáo;

50 việc quản trị bê bối những tài sản vật chất khiến cho Giáo Hội bị thiệt hại nặng nề, mỗi khi không có một sự đền bù nào khác cho sự thiệt hại này.

Điều 1742

§1. Nếu thấy có một lý do như được nói đến ở điều 1740 sau khi đã điều tra, Giám Mục sẽ thảo luận vấn đề với hai cha sở được hội đồng linh mục tuyển chọn cách cố định từ nhóm các linh mục được thành lập vì mục đích này, theo lời đề nghị của Giám Mục. Sau đó, nếu nhận thấy phải đi đến quyết định giải nhiệm, Giám Mục phải lấy tình cha con thuyết phục cha sở từ nhiệm trong thời hạn mười lăm ngày, sau khi đã nói cho ngài biết lý do và các luận cứ, để sự giải nhiệm được hữu hiệu.

§2. Đối với những cha sở là thành viên của một dòng tu hoặc của một tu đoàn tông đồ, thì phải giữ những quy định của điều 682 §2.

Điều 1743.

Không những cha sở có thể đệ đơn xin từ nhiệm cách đơn thường, mà ngài còn có thể đệ đơn xin từ nhiệm với điều kiện nữa, miễn là điều kiện đó có thể được Giám Mục chấp nhận một cách hợp pháp và được ngài chấp thuận thật sự.

Điều 1744.

§1. Nếu cha sở không trả lời trong thời hạn đã được ấn định, Giám Mục phải nhắc lại lời yêu cầu đương sự từ nhiệm và phải gia hạn thời gian hữu dụng để đương sự trả lời.

§2. Nếu Giám Mục biết rõ cha sở đã nhận được thư yêu cầu thứ hai mà không trả lời, mặc dầu không bị ngăn trở gì, hoặc nếu cha sở không chịu từ nhiệm mà không đưa ra lý do nào, thì Giám Mục phải ban hành sắc lệnh giải nhiệm.

Điều 1745.

Tuy nhiên, nếu cha sở chống lại lý do được viện dẫn và những luận cứ được kèm theo, bằng cách đưa ra những lý chứng mà Giám Mục xét thấy là không đầy đủ, để hành động hữu hiệu, Giám Mục phải:

1o yêu cầu cha sở viết một bản tường trình về những điều mình kháng nghị, sau khi đã nghiên cứu các án từ và, hơn nữa, phải viện dẫn những chứng cớ trái ngược, nếu có;

2o cân nhắc vấn đề cùng với những cha sở được nói đến ở điều 1742 §1, sau khi đã bổ túc việc thẩm cứu, nếu cần, trừ khi những vị này bị ngăn trở, thì phải chỉ định những vị khác;

3o Sau hết, quyết định có nên giải nhiệm cha sở hay không và phải lập tức ra một sắc lệnh về việc đó.

Điều 1746.

Sau khi đã giải nhiệm cha sở, Giám Mục phải liệu trao cho đương sự một chức vụ khác, nếu đương sự có khả năng, hoặc ban cho đương sự một khoản tiền cấp dưỡng, tùy trường hợp và nếu hoàn cảnh cho phép.

Điều 1747.

§1. Cha sở bị giải nhiệm phải ngưng thi hành nhiệm vụ cha sở, phải rời khỏi nhà xứ càng sớm càng tốt và phải trao lại tất cả những gì thuộc về giáo xứ cho người mà Giám Mục sắp trao giáo xứ cho.

§2. Tuy nhiên, nếu là trường hợp một cha sở đau yếu không thể di chuyển khỏi nhà xứ đến nơi khác mà không sinh bất tiện, Giám Mục phải để cho đương sự sử dụng nhà xứ, kể cả việc sử dụng độc quyền, bao lâu việc đó còn cần thiết.

§3. Bao lâu việc thượng cầu chống lại sắc lệnh giải nhiệm chưa được giải quyết, Giám Mục không thể bổ nhiệm một cha sở mới, nhưng trong khi chờ đợi phải liệu sao cho giáo xứ ấy có vị giám quản giáo xứ.

CHƯƠNG 2
THỦ TỤC THUYÊN CHUYỂN
CÁC CHA SỞ

Điều 1748.

Nếu thiện ích của các linh hồn hay những nhu cầu hoặc lợi ích của Giáo Hội đòi hỏi thuyên chuyển một cha sở từ giáo xứ ngài đang lãnh đạo cách hữu hiệu, đến một giáo xứ khác, hoặc sang một chức vụ khác, Giám Mục phải đề nghị việc thuyên chuyển này tới đương sự bằng văn thư, và khuyên đương sự chấp thuận vì lòng yêu mến Chúa và các linh hồn.

Điều 1749

Nếu cha sở không muốn tuân theo đề nghị và những lời khuyến dụ của Giám Mục, thì phải trình bày lý do trên giấy tờ.

Điều 1750

Bất chấp những lý do được viện dẫn, nếu Giám Mục quyết định không rút lại đề nghị của mình, thì ngài phải cân nhắc các lý do thuận hay bất thuận việc thuyên chuyển với hai cha sở được chọn, chiếu theo quy tắc của điều 1742 §1; nhưng nếu sau đó ngài xét thấy cần phải thuyên chuyển, thì ngài phải lấy tình cha con mà khuyên bảo đương sự một lần nữa.

Điều 1751

§1. Sau khi đã thực hiện những việc ấy, nếu cha sở vẫn còn từ chối và nếu Giám Mục xét thấy cần phải thuyên chuyển, ngài phải ban hành sắc lệnh thuyên chuyển và quy định rằng giáo xứ sẽ khuyết vị sau khi mãn thời hạn đã được ấn định.

§2. Sau khi thời hạn này trôi qua cách vô ích, Giám Mục phải tuyên bố giáo xứ khuyết vị.

Điều 1752

Trong các vụ thuyên chuyển, phải áp dụng những quy định của điều 1747, phải giữ sự hợp tình hợp lý theo giáo luật và phải nhằm vào ơn cứu rỗi các linh hồn là luật tối thượng trong Giáo Hội.

Trở về Mục Lục